Session 7. Tương đối luận, khách quan tính và bất đồng
Session 7 trên 16
Hai cộng đồng bất đồng sâu sắc có chứng minh được rằng không có chân lý đạo đức khách quan không? Đồng thuận có chứng minh được chân lý không?
Luận đề 1: Ngữ nghĩa
Câu đạo đức có mô tả điều gì và mang giá trị chân lý (truth-apt, tức thích hợp để đánh giá đúng/sai) không?
Luận đề 2: Chân lý
Có câu đạo đức tích cực nào (như “X sai”) thực sự đúng không?
Luận đề 3: Độc lập với quan điểm
Câu đúng có đúng vì ai đó (cá nhân, văn hóa, quy trình) tán thành nó không?
Luận đề 4: Tri thức
Nếu có sự thật đạo đức, ta có biết được không?
Bài đọc
| Loại | Sách | Phần đọc |
|---|---|---|
| Đọc chính | FShafer-Landau, The Fundamentals of Ethics | chương 19, Ethical Relativism, và chương 21, chọn các lập luận về bất đồng và khách quan tính. |
| Đọc thêm | CChrisman, What Is This Thing Called Metaethics? | chương 1 và các mục về objectivity/relativism |
| Đọc thêm | ADimmock & Fisher, Ethics for A-Level | chương 6. |
| Theo MIT | MIT 24.231 Ethics | Mục Moral relativism, sessions 8–10. Danh mục bài đọc MIT. |
Sản phẩm
Phân biệt bất đồng thực tế, tương đối luận chuẩn tắc/siêu đạo đức theo cách tác giả đang dùng, và khả năng có lý do để bảo vệ một phán đoán. Tránh coi “có nhiều giá trị” là đồng nghĩa với relativism.
Bài giảng Session 7 — Tương đối luận, khách quan tính và bất đồng
Mục lục
- 0. Nhắc lại các khái niệm từ session trước
- 1. Session 7 nằm ở đâu trong khung luận đề
- 1.1. Bốn luận đề
- 1.2. Viết thành ký hiệu
- 2. Ba nghĩa của “khách quan”, cần tách ngay từ đầu
- 2.1. Shafer-Landau dùng nghĩa K1
- 2.2. Chrisman chỉ ra một nghĩa thứ tư, gây rối
- 3. Bản đồ của Shafer-Landau và thang “đúng nhờ điều gì”
- 3.1. Phân loại trong ch. 19
- 3.2. Thang “đúng nhờ điều gì”
- 4. Bốn luận đề hay bị gộp dưới chữ “tương đối”
- 4.1. Các khoảng trống suy luận
- 5. Lập luận từ bất đồng
- 5.1. Bản của Shafer-Landau (ch. 21, mục 6, tr. in 327–328; PDF 348–349)
- 5.2. Shafer-Landau đáp thế nào
- 5.3. Một bản mạnh hơn: suy luận về lời giải thích tốt nhất (Mackie)
- 5.4. Realist đáp P2′: bất đồng còn đến từ đâu?
- 5.5. Tóm tắt trên khung luận đề
- 6. Đồng thuận chứng minh được gì?
- 7. Phản biện tương đối luận theo Shafer-Landau, ch. 19
- 7.1. Bất khả sai đạo đức
- 7.2. Tương đương đạo đức
- 7.3. Không có giá trị nội tại
- 7.4. Không thể chất vấn cam kết của chính mình
- 7.5. Tiến bộ đạo đức
- 7.6. Thế lưỡng nan mâu thuẫn / mất bất đồng (phản biện mạnh nhất)
- 7.7. Tiểu văn hóa: tương đối luận văn hóa có thể không thoát được mâu thuẫn
- 7.8. Tương đối luận có thể đáp lại thế nào (tutor bổ sung)
- 8. Lý tưởng hóa và Euthyphro: chỗ đánh vào quan điểm tạm thời của người học
- 8.1. Sửa lỗi bằng người quan sát lý tưởng (ch. 19, tr. in 301–302)
- 8.2. Vấn đề thứ nhất: người quan sát lý tưởng bất đồng (giải quyết được)
- 8.3. Vấn đề thứ hai: Euthyphro (không dễ giải quyết)
- 8.4. Điều này có nghĩa gì với quan điểm tạm thời của người học
- 9. Góc nhìn của Chrisman: tương đối luận như một dạng tự nhiên luận
- 9.1. Ý tưởng
- 9.2. Hai nghĩa của “khách quan” lại xuất hiện
- 9.3. Bốn phản biện Chrisman nêu
- 10. Bốn lập luận “dễ” chống khách quan tính (ch. 21, mục 1, 3, 4, 5)
- 10.1. Khách quan có đòi hỏi không ngoại lệ? (mục 1)
- 10.2. Quyền có ý kiến ngang nhau nên mọi ý kiến hợp lý ngang nhau (mục 3)
- 10.3. Khách quan luận dẫn đến giáo điều (mục 4)
- 10.4. Khách quan luận đe dọa khoan dung (mục 5)
- 11. Nối lại trao đổi: ví dụ người Athens
- 12. Bảng tổng hợp theo bốn luận đề
- 13. Liên hệ AI và quản trị AI
- 13.1. Dữ liệu cho thấy khác biệt văn hóa (loại A)
- 13.2. Đồng thuận của người gán nhãn: bằng chứng hay nền tảng?
- 13.3. Vấn đề tiểu văn hóa cho mô hình toàn cầu
- 13.4. “Tôn trọng đa dạng văn hóa” trong nguyên tắc AI
- 14. Sản phẩm của session
- 15. Tự kiểm
- 16. Hướng dẫn đọc
- 17. Thuật ngữ cốt lõi
- 18. Câu hỏi còn mở và nối sang các session khác
- 19. Nguồn và giới hạn kiểm tra
Câu hỏi trung tâm (theo syllabus):
- Hai cộng đồng bất đồng sâu sắc có chứng minh được rằng không có chân lý đạo đức khách quan không?
- Ngược lại, đồng thuận có chứng minh được chân lý không?
Mục tiêu của session:
- Tách ba ý thường bị gộp với chữ “khách quan” (độc lập, độ phủ, không ngoại lệ) và biết Shafer-Landau, Chrisman dùng nghĩa nào.
- Tách bốn luận đề hay bị gộp dưới chữ “tương đối”: bất đồng thực tế, tương đối luận siêu đạo đức, tương đối luận chuẩn tắc, đa nguyên giá trị.
- Tái dựng lập luận từ bất đồng thành tiền đề và kết luận; biết tiền đề nào là chỗ yếu.
- Nắm các phản biện chuẩn của Shafer-Landau đối với tương đối luận văn hóa và chủ quan luận, nhất là thế lưỡng nan mâu thuẫn / mất bất đồng.
- Thấy vì sao phản biện Euthyphro của Shafer-Landau cho “người quan sát lý tưởng” cũng nhắm vào quan điểm tạm thời của người học (constructivism).
- Làm sản phẩm theo syllabus: phân biệt bất đồng thực tế, tương đối luận theo cách tác giả dùng, và khả năng có lý do để bảo vệ một phán đoán.
Thời lượng dự kiến: 4–6 giờ, chia hai buổi. Buổi 1 (lõi): mục 1–6. Buổi 2: mục 7–11, rồi sản phẩm (mục 14).
Nếu chỉ có 30 phút: đọc mục 2 (ba nghĩa của “khách quan”), bảng ở mục 4, mục 5.1–5.2 (lập luận từ bất đồng và phản hồi), mục 7.6 (thế lưỡng nan mâu thuẫn).
Cách đọc tài liệu này: mỗi mục một ý. Cuối mỗi phần có ô Dừng kiểm, kèm gợi ý từng bước suy luận. Ký hiệu hình thức chỉ là công cụ hình dung; mỗi lần dùng đều ghi giới hạn.
0. Nhắc lại các khái niệm từ session trước
Tài liệu ghi tắt “S4”, “S5”… để chỉ session gốc. Bảng dưới giải thích ngắn từng khái niệm được nhắc, để không phải nhớ theo số.
| Ký hiệu | Khái niệm | Giải thích ngắn |
|---|---|---|
| S2 | is–ought (Hume) | Từ câu mô tả sự việc (“là”) không suy ra trực tiếp được câu chuẩn tắc (“nên”); cần thêm một tiền đề chuẩn tắc |
| S2 | hợp lệ / vững | Lập luận hợp lệ: nếu tiền đề đúng thì kết luận buộc phải đúng. Vững: hợp lệ và tiền đề đúng |
| S4 | cognitivism / expressivism | Cognitivism: câu đạo đức mô tả, có thể đúng/sai (truth-apt). Expressivism: câu đạo đức biểu đạt thái độ (tán thành, phản đối), không mô tả |
| S4 | internalism về phán đoán và động cơ | Ai thật lòng phán đoán “X là sai” thì ít nhiều có động cơ tránh X |
| S5 | moral realism, ba luận đề | (1) câu đạo đức mô tả; (2) có câu đạo đức đúng; (3) chúng đúng độc lập với quan điểm của bất kỳ ai |
| S5 | naturalism | Thuộc tính đạo đức là một loại thuộc tính tự nhiên, khoa học thực nghiệm có thể nghiên cứu |
| S5 | Trái Đất song sinh | Thí nghiệm tưởng tượng: hai cộng đồng dùng chữ “tốt” cho hai thuộc tính tự nhiên khác nhau mà vẫn có vẻ cãi nhau thật. Người học thấy trực giác “cãi nhau thật” này “không hiển nhiên lắm” |
| S5 | bạn đồng hành mang tội | Chỉ ra rằng một phản biện nhắm vào đạo đức cũng đánh trúng lĩnh vực ta vẫn tin (toán, khoa học); nếu không bỏ lĩnh vực kia thì cũng không buộc phải bỏ đạo đức |
| S6 | error theory (Mackie) | Câu đạo đức mô tả (giữ 1) nhưng tất cả đều sai vì không có thuộc tính đạo đức khách quan (bác 2) |
| S6 | suy luận về lời giải thích tốt nhất | Từ dữ kiện D, chọn giả thuyết H nếu H giải thích D tốt hơn các giả thuyết khác. Kết luận có thể sai, khác với suy diễn |
| S6 | quan điểm tạm thời của người học | Giữ luận đề 1 và 2; để mở luận đề 3 theo hướng constructivism |
| S8 | luận đề 4 (tri thức) | Nếu có sự thật đạo đức, ta có biết được không? Câu hỏi nhận thức luận, giả định 1 và 2 |
| S8 | bất đồng ngang hàng | Bất đồng với người có cùng bằng chứng và năng lực suy xét như mình; câu hỏi là mình có nên giảm độ tin không |
| S9 | constructivism | Câu đạo đức đúng vì nó là kết quả của một quy trình suy xét lý tưởng (sửa luận đề 3) |
| S9 | Euthyphro | Thế lưỡng nan: điều đúng được chọn vì nó đúng (thì sự thật có trước việc chọn), hay điều đúng là đúng vì được chọn (thì có vẻ tùy tiện)? |
1. Session 7 nằm ở đâu trong khung luận đề
1.1. Bốn luận đề
Nhắc lại khung đã dùng từ Session 5, thêm luận đề 4 từ Session 8:
| Luận đề | Câu hỏi | Nội dung realism khẳng định |
|---|---|---|
| 1. Ngữ nghĩa | Câu đạo đức làm gì? | Mô tả, nên có thể đúng hoặc sai |
| 2. Chân lý | Có câu nào đúng không? | Có ít nhất một số câu đạo đức tích cực đúng |
| 3. Độc lập | Đúng nhờ điều gì? | Đúng không phải vì ai (cá nhân, cộng đồng, quy trình) tán thành nó |
| 4. Tri thức | Ta có biết được không? | Ít nhất đôi khi có (nhiều realist khẳng định; không bắt buộc) |
Session 6 xét hai cách bác 1 hoặc 2 (expressivism, error theory). Session 7 xét nhóm lập trường giữ 1 và 2 nhưng bác 3: có câu đạo đức đúng, nhưng chúng đúng nhờ quan điểm của ai đó.
Đây cũng là chỗ người học để mở ở cuối Session 6. Vì vậy Session 7 không chỉ là “học về tương đối luận”, mà là kiểm tra: bác 3 đến mức nào thì còn chấp nhận được?
1.2. Viết thành ký hiệu
Gọi p là một câu đạo đức, ví dụ “Chế độ nô lệ là sai”.
- Realism: “đúng” là vị từ một ngôi: Đúng(p). Câu đúng hay sai, chấm hết.
- Tương đối luận: “đúng” là vị từ hai ngôi: Đúng(p, C), với C là chuẩn mực của một cộng đồng (tương đối luận văn hóa) hay của một cá nhân (chủ quan luận). Hỏi “p có đúng không?” mà không nói C thì câu hỏi chưa đủ nghĩa, giống hỏi “cửa hàng có ở bên trái không?” mà không nói đi theo chiều nào. (Ví dụ “bên trái” là của Chrisman, ch. 2.)
Giới hạn của ký hiệu: viết Đúng(p, C) làm như C đã xác định rõ. Thực tế, “cộng đồng” của một người là gì lại là chỗ tương đối luận gặp khó (mục 7.7, 9.3). Ký hiệu chỉ làm rõ cấu trúc của luận đề, không giải quyết nội dung.
Dừng kiểm 1
Câu “Hút cần sa là hợp pháp” là vị từ một ngôi hay hai ngôi? Vì sao?
Gợi ý từng bước: (a) Hỏi “hợp pháp ở đâu?”. (b) Không có câu trả lời nếu không nêu một hệ thống pháp luật. (c) Vậy “hợp pháp” là hai ngôi: Hợp pháp(X, hệ pháp luật L). Tương đối luận nói “đúng đạo đức” giống “hợp pháp” ở điểm này. Shafer-Landau dùng đúng ví dụ này (ch. 19, tr. in 299).
2. Ba nghĩa của “khách quan”, cần tách ngay từ đầu
Câu hỏi của session dùng chữ “chân lý đạo đức khách quan”. Nhưng “khách quan” được dùng theo ít nhất ba nghĩa. Nhầm nghĩa thì sẽ tưởng lập luận chạm vào luận đề 3 trong khi nó không chạm.
| Nghĩa | Nội dung | Ví dụ ngoài đạo đức | Liên quan luận đề nào |
|---|---|---|---|
| (K1) Độc lập | Đúng bất kể ai tin, ai quan tâm, có thỏa mong muốn của ai không | “Sao Mộc nặng hơn Sao Thủy” | Đây chính là luận đề 3 |
| (K2) Độ phủ (phạm vi áp dụng; tính phổ quát) | Chuẩn mực áp dụng cho những ai và trong phạm vi nào; phổ quát là một khả năng trong đó | Một luật áp dụng cho mọi công dân | Không trùng luận đề 3 (mục 9.2) |
| (K3) Không ngoại lệ (tuyệt đối) | Quy tắc không bao giờ cho phép ngoại lệ | “Không bao giờ được nói dối, kể cả để cứu người” | Không tự giải quyết luận đề 3 (mục 10.1) |
K1 và K2 khác nhau ở câu hỏi: K1 hỏi điều gì làm cho một chuẩn mực đúng — có phụ thuộc vào sự tán thành hay quan điểm của ai không? K2 hỏi chuẩn mực ấy áp dụng cho những ai và trong phạm vi nào. Một nguyên tắc có thể được đề xuất là áp dụng cho mọi người vì kết quả của một quy trình lý tưởng (độ phủ phổ quát, nhưng theo cách hiểu này không có K1); ngược lại, một nghĩa vụ có thể được cho là đúng độc lập với ý kiến nhưng chỉ áp dụng cho người ở trong một quan hệ nhất định, chẳng hạn nghĩa vụ đặc biệt của cha mẹ đối với con mình (K1 mà không áp dụng trực tiếp cho mọi người). Một quy tắc có điều kiện vẫn có thể phổ quát đối với mọi trường hợp đáp ứng điều kiện ấy. Đây là ví dụ minh họa các lập trường, không phải kết luận rằng những lập trường ấy đã được chứng minh.
2.1. Shafer-Landau dùng nghĩa K1
Shafer-Landau (ch. 19, tr. in 289; PDF 310) định nghĩa: chuẩn mực đạo đức khách quan là chuẩn mực áp dụng cho mọi người, kể cả khi người ta không tin chúng áp dụng, không quan tâm đến chúng, và việc tuân theo chúng không thỏa mãn mong muốn của ai. Một câu đạo đức đúng khách quan khi nó nói đúng các chuẩn mực ấy.
Ông gọi lập trường “có một số chuẩn mực đạo đức đúng khách quan” là ethical objectivism (tạm dịch: khách quan luận đạo đức). Theo khung của ta: objectivism ≈ luận đề 1 + 2 + 3.
Định nghĩa này gộp một chút K2 (“áp dụng cho mọi người”) vào K1. Nhưng lõi của nó là K1: điều làm cho chuẩn mực đúng không phải niềm tin hay mong muốn của ai.
2.2. Chrisman chỉ ra một nghĩa thứ tư, gây rối
Chrisman (ch. 2, tr. in 41–43; PDF 54–56) nhắc rằng “khách quan” còn có thể nghĩa là “ở ngoài kia, có thể khám phá”: một sự kiện mà người điều tra không tạo ra bằng phản ứng của mình, và có thể phát hiện bằng phương pháp thực nghiệm.
Theo nghĩa này, cả sự kiện “cộng đồng Y chấp nhận chuẩn mực N” cũng khách quan: nhà nhân học có thể khám phá nó, và nó đúng dù nhà nhân học nghĩ gì. Chrisman kết luận rằng có những dạng tương đối luận (Harman, Copp) có thể được xếp là realism tự nhiên luận theo nghĩa này (mục 9).
Cách tutor đề nghị đọc khung luận đề cho chính xác: luận đề 3 hỏi điều gì làm cho câu đạo đức đúng, không hỏi người điều tra có tạo ra sự kiện hay không. Với tương đối luận, sự kiện “Y chấp nhận N” độc lập với người điều tra, nhưng chính việc Y chấp nhận N làm cho “X sai” đúng ở Y. Vì vậy tương đối luận vẫn bác luận đề 3 theo nghĩa K1. Chrisman không sai; ông chỉ dùng một nghĩa khác của chữ “khách quan”.
Dừng kiểm 2
Một người nói: “Đạo đức không khách quan vì quy tắc ‘không nói dối’ có ngoại lệ.” Người ấy đang dùng nghĩa nào của “khách quan”? Lập luận có chạm luận đề 3 không?
Gợi ý từng bước: (a) “Có ngoại lệ” là nói về độ nghiêm ngặt của quy tắc. (b) K3 hỏi quy tắc có không ngoại lệ hay không; thuật ngữ thường dùng là “tuyệt đối”. (c) Luận đề 3 là K1 (điều gì làm cho đúng). (d) Một quy tắc có ngoại lệ vẫn có thể đúng độc lập với ý kiến của ai. Vậy lập luận không chạm luận đề 3. Đây là lập luận 1 trong ch. 21 của Shafer-Landau (mục 10.1).
3. Bản đồ của Shafer-Landau và thang “đúng nhờ điều gì”
3.1. Phân loại trong ch. 19
Shafer-Landau (ch. 19, tr. in 290–291) chia như sau:
Sơ đồ dạng văn bản
flowchart TD
Q["Đạo đức có khách quan theo nghĩa K1 không?"]
Q -->|Có| O["Khách quan luận (objectivism)<br/>Giữ luận đề 1, 2 và 3"]
Q -->|Không| S["Hoài nghi đạo đức<br/>(moral skepticism)"]
S --> N["Hư vô luận đạo đức (moral nihilism)<br/>Không có câu đạo đức nào đúng<br/>Error theory, expressivism: bác 1 hoặc 2"]
S --> R["Tương đối luận đạo đức (ethical relativism)<br/>Có câu đúng tương đối với người hoặc nhóm"]
R --> P["Chủ quan luận<br/>Cá nhân"]
R --> C["Tương đối luận văn hóa<br/>Cộng đồng"]Lưu ý thuật ngữ: ở ch. 19, Shafer-Landau dùng “moral skepticism” theo nghĩa phủ nhận chuẩn mực khách quan (một luận đề về luận đề 3), và ông tự ghi chú rằng ở chỗ khác chữ này có nghĩa là phủ nhận tri thức đạo đức (luận đề 4, như trong ch. 22 và Session 8). Hai nghĩa này khác nhau: một người có thể tin có sự thật khách quan mà vẫn hoài nghi ta biết được chúng.
Hai điểm chung của chủ quan luận và tương đối luận văn hóa, theo Shafer-Landau: con người là tác giả của đạo đức; trước khi có con người thì không có gì đúng sai. Khác nhau chỉ ở chỗ: ai có tiếng nói cuối cùng, cá nhân hay cộng đồng.
3.2. Thang “đúng nhờ điều gì”
Các lập trường giữ 1 và 2 có thể xếp trên một thang, theo mức chân lý phụ thuộc vào quan điểm:
Sơ đồ dạng văn bản
flowchart LR
R["Realism<br/>Đúng(p)<br/>Giữ luận đề 3"]
I["Constructivism / người quan sát lý tưởng<br/>Đúng(p) ⇔ quan điểm lý tưởng chấp nhận p<br/>Sửa luận đề 3"]
C["Tương đối luận văn hóa<br/>Đúng(p, cộng đồng C)<br/>Bác luận đề 3"]
S["Chủ quan luận<br/>Đúng(p, người nói S)<br/>Bác luận đề 3"]
R --> I --> C --> SChiều từ trái sang phải: từ độc lập với mọi quan điểm đến phụ thuộc quan điểm cá nhân.
Constructivism và lý thuyết người quan sát lý tưởng (mục 8) nằm ở giữa: chân lý phụ thuộc vào một quan điểm, nhưng là quan điểm được lý tưởng hóa (đủ thông tin, suy xét đúng), không phải quan điểm thực tế của ai. Shafer-Landau xếp lý thuyết người quan sát lý tưởng vào phía không khách quan, và dùng cùng một phản biện cho cả ba (mục 8). Điều này quan trọng với quan điểm tạm thời của người học.
Giới hạn của thang: thang chỉ đo một chiều (phụ thuộc vào ai). Nó không cho thấy các lập trường khác nhau ở cách giải thích tri thức, động cơ hay bất đồng. Vị trí của constructivism trên thang còn tranh luận (Session 9).
Dừng kiểm 3
Theo Shafer-Landau, error theory và tương đối luận văn hóa đều là “moral skepticism”. Chúng khác nhau ở luận đề nào?
Gợi ý từng bước: (a) Error theory: có câu đạo đức nào đúng không? Không. Vậy bác luận đề 2. (b) Tương đối luận văn hóa: có câu đúng không? Có, đúng tương đối với cộng đồng. Vậy giữ 2 (theo nghĩa “đúng tương đối”), bác 3. (c) Kết luận: khác nhau ở luận đề 2; giống nhau ở chỗ cùng không chấp nhận chân lý khách quan theo nghĩa K1.
4. Bốn luận đề hay bị gộp dưới chữ “tương đối”
Syllabus yêu cầu tách: “Tránh coi ‘có nhiều giá trị’ là đồng nghĩa với relativism.” Chrisman (ch. 2, tr. in 40) cũng tách tương đối luận nhân học (mô tả) khỏi tương đối luận siêu đạo đức.
| Ký hiệu | Luận đề | Loại câu hỏi | Ví dụ phát biểu | Luận đề realism bị chạm |
|---|---|---|---|---|
| A | Bất đồng thực tế (tương đối luận mô tả, nhân học) | Thực nghiệm: người ta tin gì? | “Các cộng đồng thực sự có niềm tin đạo đức khác nhau” | Không chạm trực tiếp |
| B | Tương đối luận siêu đạo đức | Siêu đạo đức: điều gì làm cho câu đúng? | “‘X sai’ chỉ đúng tương đối với chuẩn mực một cộng đồng” | Giữ 1, 2; bác 3 |
| C | Tương đối luận chuẩn tắc | Chuẩn tắc: ta nên làm gì? | “Ta không nên phán xét hay can thiệp vào thực hành của cộng đồng khác” | Không phải luận đề siêu đạo đức; là một phán đoán đạo đức bậc một |
| D | Đa nguyên giá trị | Chuẩn tắc: có bao nhiêu giá trị cơ bản? | “Tự do, bình đẳng, lòng trung thành đều là giá trị thật, không quy về một, có khi xung đột” | Tương thích với cả 1, 2, 3 |
4.1. Các khoảng trống suy luận
Sơ đồ dạng văn bản
flowchart LR
A["A: Bất đồng thực tế<br/>(mô tả)"]
B["B: Tương đối luận<br/>siêu đạo đức"]
C["C: Tương đối luận<br/>chuẩn tắc"]
D["D: Đa nguyên giá trị"]
A -. "Không tự suy ra; cần tiền đề cầu nối" .-> B
B -. "Không tự suy ra; cần tiền đề chuẩn tắc" .-> C
D -. "Không tự suy ra" .-> B- A ⇏ B: từ “người ta tin khác nhau” không suy ra “không có câu trả lời đúng”. Chrisman nói rõ: có thể chấp nhận tương đối luận nhân học mà vẫn nghĩ có một bộ chuẩn mực đúng. Cần thêm một tiền đề (mục 5).
- B ⇏ C: từ “đúng sai tương đối với cộng đồng” không suy ra “nên khoan dung với cộng đồng khác”. Thực ra, nếu B đúng và cộng đồng của tôi đề cao bất khoan dung, thì B kéo theo rằng tôi đúng khi bất khoan dung. Shafer-Landau dùng chính điểm này (mục 10.4).
- D ⇏ B: “có nhiều giá trị thật” là một khẳng định về số lượng giá trị, không phải về điều làm cho chúng là giá trị. Realist có thể là người theo đa nguyên (Ross, mà Shafer-Landau nhắc ở ch. 21, tr. in 321–322: các bổn phận cơ bản khách quan nhưng không tuyệt đối). Berlin thường được nêu làm ví dụ đa nguyên (tutor bổ sung).
Mỗi mũi tên nét đứt chỉ một bước suy luận không tự động có giá trị: có thể cần tiền đề bổ sung hoặc đang chuyển giữa các loại câu hỏi. Đây là kỹ năng chính của session: nhận ra bước nhảy khi nó xảy ra.
Dừng kiểm 4
Xếp câu sau vào A, B, C hay D: “Vì mỗi nền văn hóa có giá trị riêng, các công ty AI không nên áp đặt chuẩn đạo đức phương Tây lên người dùng toàn cầu.”
Gợi ý từng bước: (a) Câu có hai phần. “Mỗi nền văn hóa có giá trị riêng” là mô tả: A. (b) “Không nên áp đặt” là một chữ “nên”: C. (c) Câu nối A với C bằng chữ “vì”, bỏ qua B. (d) Để suy luận hợp lệ cần thêm hoặc B kèm một tiền đề nữa, hoặc trực tiếp một tiền đề chuẩn tắc (ví dụ: tôn trọng quyền tự quyết). (e) Kết luận: câu là C, được biện minh bằng A, thiếu tiền đề cầu nối.
5. Lập luận từ bất đồng
Đây là câu hỏi thứ nhất của session.
5.1. Bản của Shafer-Landau (ch. 21, mục 6, tr. in 327–328; PDF 348–349)
Shafer-Landau dựng lập luận như sau. Động lực: trong đạo đức có nhiều bất đồng hơn trong khoa học, và cách giải thích có sẵn là khoa học có một thực tại khách quan để khám phá, còn đạo đức thì không.
P1. Nếu những người đủ thông tin, cởi mở, có lý trí bất đồng dai dẳng về một khẳng định, thì khẳng định ấy không thể đúng khách quan. P2. Những người đủ thông tin, cởi mở, có lý trí bất đồng dai dẳng về mọi khẳng định đạo đức. K. Không khẳng định đạo đức nào có thể đúng khách quan.
Lập luận hợp lệ (nếu P1 và P2 đúng thì K phải đúng). Vậy câu hỏi là P1 và P2 có đúng không.
Ký hiệu: gọi BĐ(p) = “người lý tưởng (đủ thông tin, cởi mở, lý trí) bất đồng dai dẳng về p”, KQ(p) = “p đúng khách quan”. P1: ∀p [BĐ(p) → ¬KQ(p)]. P2: ∀p đạo đức, BĐ(p). K: ∀p đạo đức, ¬KQ(p). Giới hạn: “người lý tưởng” và “dai dẳng” là khái niệm có mức độ, không phải hoặc có hoặc không như ký hiệu gợi ý.
5.2. Shafer-Landau đáp thế nào
Về P2. Ông thấy P2 có thể quá mạnh: có lẽ có vài khẳng định đạo đức mà mọi người lý tưởng đều chấp nhận. Việc luôn có ai đó phản đối một khẳng định không chứng minh P2, vì người phản đối có thể không đủ thông tin, không cởi mở, hay không lý trí. Bất đồng có thể đến từ suy luận cẩu thả, thiếu dữ kiện, có lợi ích riêng, hay định kiến. Nhưng rồi ông tạm chấp nhận P2: ông cũng không chắc người lý tưởng sẽ đồng ý về mọi vấn đề.
Về P1: hai phản biện.
- Phản ví dụ (bạn đồng hành mang tội). Các nhà vật lý xuất sắc bất đồng về việc thành phần cơ bản của vật chất có phải dây hạ nguyên tử không; các nhà khảo cổ bất đồng về cách đọc di chỉ; các triết gia giỏi nhất vẫn tranh luận Thượng đế có tồn tại không. Vậy mà trong từng lĩnh vực vẫn có sự thật khách quan. Biết được có thể khó, có khi không thể; nhưng khó biết (luận đề 4) không phải không có (luận đề 3).
- Tự bác bỏ. Chính P1 cũng là đối tượng bất đồng sâu giữa những người rất giỏi. Nếu P1 đúng thì P1 không thể đúng khách quan. Và nó cũng không “đúng tương đối” theo nghĩa đúng vì tôi hay xã hội tôi tin nó. Vậy P1 sai.
Kết luận của ông: bất đồng sâu, kể cả giữa những bộ óc tốt nhất, chưa đủ chứng minh hoài nghi trong một lĩnh vực; bất đồng trong đạo đức tương thích với khách quan tính.
Đặt lên khung luận đề: phản hồi của Shafer-Landau tách luận đề 3 khỏi luận đề 4. Bất đồng là bằng chứng rằng biết khó (đe dọa 4), không phải bằng chứng rằng không có gì để biết (bác 3). Nhắc Session 8: ở đó ta học bất đồng ngang hàng như một lập luận về tri thức (luận đề 4). Ở đây là lập luận về thực tại (luận đề 3). Cùng dữ kiện, hai câu hỏi khác nhau.
5.3. Một bản mạnh hơn: suy luận về lời giải thích tốt nhất (Mackie)
Bản của Shafer-Landau dùng P1 dạng suy diễn (“nếu bất đồng thì không thể đúng”). Dạng ấy dễ bị phản ví dụ. Mackie, mà người học đã gặp ở Session 6 (lập luận từ sự tương đối, một trong hai lý do ông đưa ra cho error theory), dùng dạng giải thích yếu hơn và khó bác hơn:
P1′. Có bất đồng đạo đức sâu rộng, bền giữa các cộng đồng và thời đại. (dữ kiện, loại A) P2′. Lời giải thích tốt nhất cho bất đồng loại này là: niềm tin đạo đức phản ánh lối sống của từng cộng đồng, chứ không phải là nhận thức (có thể sai) về một sự thật độc lập. (cầu nối) K′. Có lý do để tin không có sự thật đạo đức độc lập (bác 3).
Khác biệt: P2′ không nói “bất đồng thì không thể có sự thật”. Nó nói “giả thuyết không-có-sự-thật giải thích tốt hơn”. Phản ví dụ vật lý không bác được P2′ trực tiếp, vì trong vật lý ta có lời giải thích khác cho bất đồng (thiếu dữ liệu ở thang năng lượng cao), còn câu hỏi là đạo đức có lời giải thích tương tự không.
Lưu ý: K′ không chọn giữa tương đối luận, chủ quan luận, error theory hay expressivism. Mackie dùng nó cho error theory. Lập luận từ bất đồng, nếu thành công, chỉ bác luận đề 3; nó không tự xác định thay thế nào đúng.
5.4. Realist đáp P2′: bất đồng còn đến từ đâu?
Realist cần chỉ ra rằng phần lớn bất đồng được giải thích bằng những nguồn không đòi hỏi bác 3. Danh sách dưới đây gộp các nguồn Shafer-Landau nêu (mục 5.2) với những nguồn chuẩn trong tài liệu (Brink 1984 và các tác giả khác; tutor bổ sung):
| Nguồn bất đồng | Ví dụ dựng | Có cần bác 3 không? |
|---|---|---|
| Khác dữ kiện phi đạo đức | Hai bên cùng giữ “không gây hại vô cớ”, nhưng tin khác nhau về việc động vật có đau không | Không |
| Thiên lệch, lợi ích riêng | Người hưởng lợi từ một thực hành ít muốn thấy nó sai | Không |
| Suy luận lỗi, định kiến | Như trên | Không |
| Cùng nguyên tắc, áp dụng vào hoàn cảnh khác | Cùng “tôn trọng người chết”, một nơi chôn, một nơi hỏa táng | Không; đây có khi không phải bất đồng về nguyên tắc |
| Vấn đề khó, vùng mơ hồ | Ranh giới ở đâu trong một trường hợp sát biên | Không; có thể đạo đức có vùng không xác định |
| Bất đồng còn lại sau khi trừ hết các nguồn trên | ? | Đây là chỗ tranh luận thực sự |
Mọi tranh luận dồn về dòng cuối: có bất đồng nào còn lại giữa những người đủ thông tin, không thiên lệch, suy xét kỹ không? Đây là câu hỏi thực nghiệm, triết học một mình không trả lời được. Doris và Plakias (2008) dẫn dữ liệu tâm lý học văn hóa (khác biệt về “văn hóa danh dự”) để nói rằng có; phía realist tranh luận cách đọc dữ liệu (tutor bổ sung, chưa kiểm tra trang).
Shafer-Landau, đáng chú ý, tạm chấp nhận rằng có thể có bất đồng còn lại như vậy, và chuyển toàn bộ gánh nặng sang việc bác P1.
5.5. Tóm tắt trên khung luận đề
| Lập luận nhắm vào | Phản hồi chính | Chỗ còn mở | |
|---|---|---|---|
| Bản suy diễn (Shafer-Landau) | Luận đề 3 | P1 sai: phản ví dụ, tự bác bỏ | Ít; bản này yếu |
| Bản giải thích (Mackie) | Luận đề 3 | Giải thích bất đồng bằng nguồn khác | Dữ liệu về bất đồng còn lại |
| Bản nhận thức (Session 8) | Luận đề 4 | Vững vàng / hòa giải có điều kiện | Ta có nên giảm độ tin không |
Dừng kiểm 5
Phản biện “tự bác bỏ” của Shafer-Landau có đánh được bản giải thích của Mackie (P2′) không?
Gợi ý từng bước: (a) Bản suy diễn có P1 tổng quát: “bất đồng dai dẳng ⇒ không thể đúng khách quan”. Áp dụng cho chính P1 thì P1 tự loại. (b) P2′ chỉ nói về bất đồng đạo đức, và chỉ nói giả thuyết không-có-sự-thật giải thích nó tốt hơn. (c) Áp dụng P2′ cho bất đồng siêu đạo đức (về chính P2′) đòi hỏi thêm một khẳng định rằng bất đồng siêu đạo đức cũng được giải thích tốt nhất theo cùng cách. Mackie không cam kết điều đó. (d) Kết luận: phản biện tự bác bỏ yếu đi nhiều với P2′; realist phải dùng chiến lược ở mục 5.4. Đây là đánh giá của tutor, có thể tranh luận.
6. Đồng thuận chứng minh được gì?
Đây là câu hỏi thứ hai của session. Câu trả lời phụ thuộc vào một phân biệt:
- Đồng thuận là bằng chứng cho chân lý (giống một nhiệt kế: đọc ra nhiệt độ, không tạo ra nhiệt độ), hay
- Đồng thuận làm nên (cấu thành) chân lý (giống luật giao thông: việc xã hội quy định đi bên phải là điều làm cho đi bên phải là đúng luật).
Giới hạn của ví dụ: nhiệt kế và luật giao thông chỉ minh họa hai vai trò; không ngụ ý đạo đức giống một trong hai.
| Lập trường | Đồng thuận thực tế đóng vai trò gì? | Bất đồng chứng minh được gì? | Đồng thuận chứng minh được gì? |
|---|---|---|---|
| Realism | Bằng chứng, có thể sai | Ít nhất một bên sai hoặc thiếu thông tin; không chứng minh không có câu trả lời | Không. Cả một thời đại có thể cùng sai |
| Constructivism / người quan sát lý tưởng | Bằng chứng về điều quan điểm lý tưởng sẽ chấp nhận; đồng thuận lý tưởng mới làm nên chân lý | Ít nhất một bên chưa suy xét đúng quy trình; nếu quan điểm lý tưởng cũng bất đồng thì có thể không có câu trả lời duy nhất | Không, nếu đồng thuận ấy chưa đạt điều kiện lý tưởng |
| Tương đối luận văn hóa | Làm nên chân lý ở cộng đồng ấy | Không cần chứng minh gì: hai cộng đồng có hai chân lý | Có, theo định nghĩa. Cái giá: cộng đồng không thể sai về chuẩn mực nền của mình (mục 7.1) |
| Chủ quan luận | Không liên quan; chỉ thái độ người nói quyết định | Không có gì để chứng minh; hai người nói về hai thứ khác nhau (mục 7.6) | Chỉ chứng minh mỗi người nói đúng về thái độ của mình |
Điều cần thấy: với realism và constructivism, cả hai câu hỏi của session có câu trả lời “không”: bất đồng không chứng minh vắng chân lý, đồng thuận không chứng minh chân lý. Với tương đối luận văn hóa, câu hỏi về đồng thuận được trả lời “có” do định nghĩa, nên nó không còn là câu hỏi về bằng chứng.
Nối với quan điểm tạm thời của người học: hướng constructivism trả lời câu hỏi của session giống realism. Khác biệt chỉ lộ ra khi hỏi tiếp: nếu mọi người đều lý tưởng mà vẫn bất đồng thì sao? Realism nói: ít nhất một bên vẫn sai. Constructivism nói: có thể không có câu trả lời duy nhất. Shafer-Landau có một giải pháp cho trường hợp này (mục 8.2).
Ba câu hỏi cần giữ tách biệt (đây là phần lõi của sản phẩm):
- Có bất đồng không? (thực nghiệm)
- Có câu trả lời đúng không? (siêu đạo đức, luận đề 3)
- Ta có lý do để bảo vệ một phán đoán không? (nhận thức luận, luận đề 4)
Câu 3 có thể trả lời “có” ngay cả khi bất đồng ở câu 1 còn nguyên.
Dừng kiểm 6
Một nhóm 1.000 người gán nhãn dữ liệu cho AI đồng ý 95% rằng một câu trả lời của mô hình là “chấp nhận được”. Theo realism, con số này cho ta biết gì? Theo tương đối luận văn hóa thì sao?
Gợi ý từng bước: (a) Realism: đồng thuận là bằng chứng. Hỏi tiếp: những người này có đủ thông tin, không thiên lệch không? Nếu có, đó là bằng chứng khá tốt, nhưng vẫn có thể sai. (b) Tương đối luận văn hóa: nếu 1.000 người này đại diện cho “cộng đồng” liên quan, thì đồng thuận làm cho câu trả lời chấp nhận được, ít nhất ở cộng đồng đó. (c) Câu hỏi bị đẩy về: nhóm gán nhãn có phải một “cộng đồng” theo nghĩa của tương đối luận không? Nếu không, tương đối luận không trả lời được. Mục 13 tiếp tục.
7. Phản biện tương đối luận theo Shafer-Landau, ch. 19
Shafer-Landau (ch. 19, tr. in 292–301; PDF 313–322) đánh giá chủ quan luận và tương đối luận văn hóa cùng nhau, vì chúng có cấu trúc giống nhau. Phần lớn phản biện không bác bỏ trực tiếp: chúng chỉ ra một hệ quả của việc bác luận đề 3, rồi hỏi: ta có chấp nhận được hệ quả ấy không? Đây là kiểu lập luận quy về điều khó chấp nhận: nếu T thì H; H khó chấp nhận; vậy có lý do bác T. Sức nặng của nó phụ thuộc vào mức ta tin H thật sự khó chấp nhận.
7.1. Bất khả sai đạo đức
- Tương đối luận văn hóa: một xã hội có thể sai ở những niềm tin lệch khỏi lý tưởng nền của chính nó, nhưng lý tưởng nền thì không thể sai, vì chúng là chuẩn mực tối hậu của xã hội ấy.
- Chủ quan luận: một người có thể sai nếu không thấy hệ quả của cam kết của mình, nhưng cam kết nền của mỗi người không thể sai.
Ký hiệu: theo tương đối luận văn hóa, với chuẩn nền N của cộng đồng C: Đúng(N, C) luôn luôn. Không có chỗ cho “C sai về N”.
Shafer-Landau dẫn một trường hợp có thật, được báo chí đưa tin năm 2004: một thiếu nữ 14 tuổi ở Istanbul bị bắt cóc và hãm hiếp, rồi bị chính cha mình giết vì “danh dự gia đình”. Ông nêu các giả định văn hóa đằng sau những vụ “giết người vì danh dự”: đàn ông có quyền sinh sát với phụ nữ; phụ nữ phải vâng lời vô điều kiện; cảm giác xấu hổ của đàn ông đủ biện minh cho việc giết. Nếu tương đối luận văn hóa đúng và đây là lý tưởng nền của một cộng đồng, thì ở cộng đồng ấy việc giết là bổn phận. Tương tự với các xã hội dựa trên chế độ nô lệ hay đàn áp sắc tộc. Và người phản đối chuẩn mực xã hội mình (iconoclast) thì theo định nghĩa luôn sai.
7.2. Tương đương đạo đức
- Chủ quan luận: quan điểm nền của mọi người ngang nhau về độ hợp lý. Quan điểm của Hitler cũng hợp lý như của một người đoạt giải Nobel Hòa bình.
- Tương đối luận văn hóa: khá hơn một chút, vì trong một xã hội có người hiểu chuẩn mực xã hội mình hơn người khác. Nhưng giữa các xã hội, mọi bộ chuẩn ngang nhau: xã hội coi phụ nữ là tài sản cũng tốt như xã hội không coi thế.
7.3. Không có giá trị nội tại
Câu hỏi cổ: một thứ tốt vì ta thích nó, hay ta thích nó vì nó tốt? Chủ quan luận chọn vế thứ nhất. Tương đối luận văn hóa cũng vậy, chỉ đổi “ta” thành “xã hội”. Hệ quả: nếu xã hội không coi trọng khoan dung, thì ở đó khoan dung không có giá trị gì. Một xã hội cởi mở trở thành chế độ phát xít thì không mắc lỗi đạo đức. Và nguồn gốc của chuẩn mực nền (định kiến, thiếu hiểu biết, tẩy não) không quan trọng: chuẩn mực vẫn đúng.
Đây là hình dạng của thế lưỡng nan Euthyphro (Session 9), sẽ trở lại ở mục 8.
7.4. Không thể chất vấn cam kết của chính mình
Theo chủ quan luận, tôi biết điều gì đúng chỉ cần biết tôi tán thành gì. Nhưng ta có lúc biết rõ mình thích gì mà vẫn tự hỏi điều mình thích có đáng không. Câu hỏi ấy có vẻ có nghĩa. Theo chủ quan luận, nó vô nghĩa. Tương tự, theo tương đối luận văn hóa, hỏi “các nguyên tắc nền của xã hội tôi có chấp nhận được không?” chứng tỏ người hỏi không hiểu đạo đức là gì.
Liên hệ luận đề 4: tương đối luận làm tri thức đạo đức quá dễ. Đây là mặt ngược của vấn đề ở realism (tri thức quá khó). Session 8 có ghi: tương đối luận cho tri thức “gần như tầm thường”.
7.5. Tiến bộ đạo đức
Có vẻ cả cá nhân lẫn xã hội có thể tiến bộ về niềm tin đạo đức. Shafer-Landau nêu: sự giảm dần thái độ phân biệt chủng tộc và giới ở Mỹ; sự tự xét lại của xã hội Đức sau Thế chiến II; những quan điểm ông từng giữ khi trẻ mà nay thấy sai.
Lập luận:
P1. Để đo tiến bộ cần một chuẩn đứng ngoài cái đang thay đổi. P2. Theo tương đối luận, chuẩn tối hậu chính là chuẩn mực nền hiện hành của xã hội. K. Khi chuẩn mực nền thay đổi, đó chỉ là đổi sang một bộ chuẩn khác, không phải tiến bộ; và các bộ chuẩn khác nhau là ngang nhau.
Ký hiệu: gọi N₁ là chuẩn của xã hội năm 1850, N₂ năm 2000. Tiến bộ nghĩa là N₂ tốt hơn N₁ theo một chuẩn N*. Tương đối luận chỉ có N₁ (đánh giá theo năm 1850) và N₂ (đánh giá theo năm 2000). Theo N₁, việc chuyển sang N₂ là thoái hóa; theo N₂, là tiến bộ. Không có N* đứng ngoài. Giới hạn: tương đối luận có thể định nghĩa “tiến bộ” là “trở nên nhất quán hơn với lý tưởng sâu nhất của chính xã hội”. Cách ấy cứu được một phần tiến bộ, nhưng không cứu được trường hợp lý tưởng sâu nhất thay đổi.
7.6. Thế lưỡng nan mâu thuẫn / mất bất đồng (phản biện mạnh nhất)
Đây là phản biện Shafer-Landau trình bày dài nhất (ch. 19, tr. in 296–299), và cũng là phản biện Chrisman gọi là “phản biện chuẩn” (ch. 2, tr. in 44).
Bước 1. Nếu đọc câu đạo đức theo nghĩa đen, chủ quan luận có tiêu chuẩn chân lý:
(S) Một phán đoán đạo đức đúng nếu nó báo cáo chính xác cảm xúc hay cam kết của người nói, và sai nếu ngược lại.
A nói thật lòng “Ăn thịt là sai”, B nói thật lòng “Ăn thịt không sai”. Theo (S) cả hai đều đúng. Nếu cả hai câu nói về cùng một điều (việc ăn thịt), ta có: p đúng và ¬p đúng, tức p ∧ ¬p: mâu thuẫn.
P1. Lý thuyết nào sinh ra mâu thuẫn thì sai. P2. Chủ quan luận sinh ra mâu thuẫn. K. Chủ quan luận sai.
Bước 2. Lối thoát: dịch lại. Chủ quan luận nói: điều A thực sự nói là “Tôi (A) phản đối ăn thịt”; B nói “Tôi (B) tán thành ăn thịt”. Ký hiệu: A khẳng định p_A, B khẳng định ¬p_B. Hai câu này không mâu thuẫn: p_A ∧ ¬p_B nhất quán, giống “tôi thích sầu riêng” và “anh không thích sầu riêng”.
Bước 3. Cái giá của lối thoát.
- Gần như mọi người hiểu sai câu nói của chính mình. Shafer-Landau dựng đoạn hội thoại: “Diệt chủng là vô đạo đức.” “Tôi nghe ra là anh phản đối diệt chủng.” “Đúng, tôi phản đối, nhưng đó không phải điều tôi nói. Tôi đang nói về diệt chủng, không phải về thái độ của tôi. Anh đang đổi chủ đề.”
- Bất đồng đạo đức biến mất. Nếu A chỉ nói về A và B chỉ nói về B, thì A nên đồng ý với câu của B (đúng là B tán thành ăn thịt), và ngược lại. Không còn gì để cãi.
Thế lưỡng nan:
Sơ đồ dạng văn bản
flowchart TD
Q["Câu đạo đức nghĩa là gì?"]
Q --> L["Nghĩa đen: nói về X"]
Q --> A["Báo cáo thái độ: nói về người nói"]
L --> LC["p ∧ ¬p: mâu thuẫn"] --> LR["Lý thuyết sai"]
A --> AC["p_A ∧ ¬p_B: nhất quán"] --> AR["Bất đồng biến mất;<br/>người nói hiểu sai chính mình"]Tương đối luận văn hóa gặp đúng thế lưỡng nan ấy (tr. in 299). Shafer-Landau lấy ví dụ: bạn nói ăn thịt đúng, một người bạn Hindu ở Calcutta nói ăn thịt sai. Dịch lại: “Ăn thịt được phong tục của tôi chấp nhận” và “Ăn thịt bị phong tục của tôi cấm”. Cả hai đúng, hết mâu thuẫn, nhưng hết luôn bất đồng giữa các nền văn hóa. Mà ta có vẻ có thể vừa ghi nhận “xã hội tôi chấp nhận biến vợ thành nô lệ trong nhà” vừa bất đồng rằng điều đó đúng. Theo bản dịch lại, câu này tự mâu thuẫn.
Giới hạn của ký hiệu: viết p_A như thể nghĩa của câu đã rõ. Tranh luận thật nằm ở chỗ: nghĩa của câu đạo đức là gì (luận đề 1, câu hỏi ngữ nghĩa từ Session 4). Ký hiệu chỉ làm lộ cấu trúc của thế lưỡng nan.
Liên hệ Session 5: người học thấy trực giác “hai cộng đồng thực sự bất đồng” trong Trái Đất song sinh “không hiển nhiên lắm”. Nếu giữ nhận xét ấy, đó chính là lối ra của tương đối luận: chấp nhận vế phải của thế lưỡng nan, nói rằng nhiều “bất đồng” đạo đức thật ra là nói lệch nhau. Câu hỏi để mang theo: ta có thể chấp nhận điều này cho mọi bất đồng đạo đức không, kể cả bất đồng về chế độ nô lệ?
7.7. Tiểu văn hóa: tương đối luận văn hóa có thể không thoát được mâu thuẫn
Tương đối luận văn hóa còn yếu hơn chủ quan luận ở một điểm (tr. in 300–301). Nhiều người thuộc nhiều cộng đồng cùng lúc. Shafer-Landau dùng vụ Wisconsin v. Yoder (Tòa án Tối cao Mỹ, 1972): con em ba gia đình Amish nghỉ học sau lớp tám vì cha mẹ thấy trường trung học xung đột với giá trị Amish, trong khi bang Wisconsin bắt buộc đi học đến 16 tuổi. Các em thuộc cả cộng đồng Amish lẫn xã hội Wisconsin.
Nếu tính đúng sai của hành động phụ thuộc vào chuẩn mực của xã hội nơi nó diễn ra, mà người ấy thuộc hai xã hội có chuẩn xung đột, thì hành động vừa đúng vừa sai: mâu thuẫn. Muốn thoát phải xếp hạng xã hội nào quan trọng hơn, nhưng tương đối luận văn hóa không cho phép xếp hạng. Để cho các em tự chọn thì lại là chủ quan luận. Vì vậy, các nhà phê bình nói tương đối luận văn hóa có xu hướng sụp về chủ quan luận: khi cá nhân và xã hội xung đột, tại sao xã hội luôn đúng? “Có sức mạnh không làm nên lẽ phải.”
Chrisman nêu phản biện cùng loại (ch. 2, tr. in 44): ta có rất nhiều “thỏa thuận ngầm” cắt chéo nhau với nhiều nhóm, nên khó vạch được ranh giới của một “cộng đồng đạo đức”.
Ký hiệu: Đúng(p, C) cần một hàm c(người, hoàn cảnh) = C chọn ra đúng một cộng đồng. Phản biện nói: không có hàm c nào vừa xác định vừa không tùy tiện.
7.8. Tương đối luận có thể đáp lại thế nào (tutor bổ sung)
Shafer-Landau kết luận ch. 19 rằng các phản biện trên giải thích vì sao tương đối luận văn hóa và chủ quan luận “ít được giới triết học ưa chuộng”, và người hoài nghi về khách quan tính có lẽ nên chọn hư vô luận (error theory, expressivism). Để trình bày công bằng, đây là những phản hồi chính từ phía tương đối luận trong tài liệu (theo hiểu biết chung, chưa kiểm tra trang):
| Phản biện | Phản hồi có thể | Cái giá |
|---|---|---|
| Bất khả sai | Thu hẹp: chỉ một vài nguyên tắc rất nền mới “không thể sai”; phần lớn niềm tin có thể sai so với chúng | Vẫn không cho phép phê phán chính các nguyên tắc nền |
| Tương đương | Tương đối luận “có giới hạn” (Wong 2006): một số đạo đức tốt hơn vì đáp ứng tốt hơn chức năng của đạo đức (hợp tác, giải quyết xung đột); vẫn có nhiều hơn một đạo đức đúng | Phải giải thích vì sao “chức năng của đạo đức” không phải một chuẩn khách quan, tức không quay về luận đề 3 |
| Mâu thuẫn / mất bất đồng | Bất đồng là xung đột về thực hành, không phải mâu thuẫn mệnh đề: hai bên không thể cùng sống theo cả hai chuẩn | Bất đồng còn lại không còn là bất đồng về chân lý |
| Mất bất đồng | “Nhạy với người đánh giá” (MacFarlane 2014): đúng sai tương đối với chuẩn của người đánh giá câu nói, nên hai bên vẫn mâu thuẫn từ góc nhìn của mỗi bên | Lý thuyết ngữ nghĩa phức tạp, còn tranh luận |
| Thỏa thuận, cộng đồng | Harman (1975): phán đoán “nên” chỉ áp dụng cho người cùng tham gia một thỏa thuận ngầm | Không phán xét được người ngoài thỏa thuận (ví dụ kẻ diệt chủng không chia sẻ thỏa thuận nào với nạn nhân) |
Dừng kiểm 7
Viết lại thế lưỡng nan ở mục 7.6 cho tương đối luận văn hóa, dùng ví dụ “Chế độ nô lệ là sai” giữa một người Mỹ năm 1830 ở miền Nam và một người Mỹ năm 2020.
Gợi ý từng bước: (a) Nghĩa đen: người 1830 khẳng định ¬p, người 2020 khẳng định p, cùng về chế độ nô lệ. Theo tương đối luận, cả hai đều đúng (mỗi người theo chuẩn của mình). Vậy p ∧ ¬p. (b) Dịch lại: “Chế độ nô lệ được xã hội tôi năm 1830 chấp nhận” và “Chế độ nô lệ bị xã hội tôi năm 2020 bác bỏ”. Cả hai đúng và nhất quán. (c) Cái giá: người 2020 không thể nói người 1830 sai; họ chỉ báo cáo hai sự kiện xã hội học. Kết hợp với mục 7.5: không có tiến bộ, chỉ có thay đổi.
8. Lý tưởng hóa và Euthyphro: chỗ đánh vào quan điểm tạm thời của người học
Mục này quan trọng nhất với người học, vì nó chạm vào hướng constructivism.
8.1. Sửa lỗi bằng người quan sát lý tưởng (ch. 19, tr. in 301–302)
Một cách tự nhiên để sửa các vấn đề ở mục 7: đừng để quan điểm thực tế của người hay xã hội quyết định, mà để quan điểm lý tưởng quyết định.
- Chủ quan luận lý tưởng: hành động đúng vì tôi sẽ tán thành nó nếu tôi đủ thông tin và hoàn toàn lý trí.
- Tương đối luận lý tưởng: hành động đúng vì xã hội sẽ tán thành nó nếu mọi thành viên đủ thông tin và lý trí.
Ký hiệu: Đúng(p) ⇔ IO(p), với IO(p) = “người quan sát lý tưởng chấp nhận p”.
Shafer-Landau thừa nhận năm cải thiện thật: (1) chuẩn nền của người và xã hội giờ có thể sai; (2) các quan điểm không còn ngang nhau; (3) sự tán thành chế độ nô lệ hay diệt chủng không còn tự động có thẩm quyền, vì chúng gần như luôn dựa trên thiếu hiểu biết và phi lý; (4) tiến bộ có thể có: là khi quan điểm thực tế tiến gần quan điểm lý tưởng; (5) bất đồng thật trở lại: hai bên đang tranh luận về điều người quan sát lý tưởng sẽ chấp nhận.
Constructivism có cùng cấu trúc: Đúng(p) ⇔ p là kết quả của quy trình Q thực hiện từ quan điểm P trong điều kiện lý tưởng I (lược đồ ở Session 9). Shafer-Landau không gọi đích danh constructivism ở đây; việc đặt hai thứ cạnh nhau là của tutor. Khác biệt đáng kể: lý thuyết người quan sát lý tưởng thường lý tưởng hóa thông tin và logic, còn nhiều bản constructivism lý tưởng hóa thêm vô tư, có thể biện minh với người khác (Scanlon) hay phổ quát hóa được (Korsgaard). Tuy vậy, phản biện ở 8.3 có dạng tổng quát, nên vẫn áp dụng.
8.2. Vấn đề thứ nhất: người quan sát lý tưởng bất đồng (giải quyết được)
Nếu những người lý tưởng vẫn bất đồng (ví dụ những người biết mọi điều về phôi học vẫn bất đồng về phá thai), lý thuyết sinh mâu thuẫn. Shafer-Landau đưa ra cách sửa mà ông cho là thành công:
- Hành động bắt buộc nếu mọi người quan sát lý tưởng tán thành.
- Hành động bị cấm nếu mọi người quan sát lý tưởng phản đối.
- Nếu họ bất đồng, hành động được phép (không bắt buộc cũng không bị cấm).
Ký hiệu: Bắt buộc(X) ⇔ ∀IO tán thành X; Cấm(X) ⇔ ∀IO phản đối X; còn lại: Được phép(X). Không còn mâu thuẫn.
Giới hạn: cách này đổi mâu thuẫn thành vùng được phép rộng. Nếu người lý tưởng bất đồng về phá thai, phá thai được phép; một số người sẽ thấy đây là kết luận chuẩn tắc gây tranh cãi chứ không phải trung lập.
8.3. Vấn đề thứ hai: Euthyphro (không dễ giải quyết)
Shafer-Landau (tr. in 303–304): theo lý thuyết này, không có gì đúng tự thân; nó trở nên đúng vì người quan sát lý tưởng tán thành. Nhưng nếu người quan sát lý tưởng tán thành việc giết người bệnh tâm thần, hay thích tàn ác hơn trắc ẩn thì sao? Bạn có thể nghĩ điều đó không thể xảy ra. Nhưng vì sao? Người ác không nhất thiết thiếu thông tin hay phi logic. Hiểu biết rộng không bảo đảm lòng thông cảm.
Đây là cùng vấn đề với thuyết mệnh lệnh thần thánh, mà Socrates nêu trong Euthyphro:
Người tán thành (Thượng đế, xã hội, tôi, hay người quan sát lý tưởng) có hay không có lý do tốt cho sự tán thành của mình?
- Không có: sự tán thành là tùy tiện, không thể làm nền cho một đạo đức đáng tôn trọng.
- Có: thì các lý do ấy, chứ không phải sự tán thành, là cái làm cho hành động đúng. Sự tán thành chỉ ghi nhận chân lý.
Ví dụ của ông: tôi (hay xã hội tôi, hay người quan sát lý tưởng, hay Thượng đế) có lý do để phản đối tra tấn: nỗi đau nó gây ra, việc nó không đáng tin để lấy thông tin, sự thiếu tôn trọng nó thể hiện, việc nó khiến nạn nhân hoàn toàn bất lực. Nếu đó là lý do tốt, chúng đủ làm tra tấn sai. Sự phản đối của tôi không thêm gì. Nếu tôi thật sự khôn ngoan, sự phản đối của tôi là bằng chứng tốt rằng tra tấn sai; nhưng nó không biến một hành động trung tính thành bị cấm.
Ký hiệu:
Sơ đồ dạng văn bản
flowchart TD
Q["Người quan sát lý tưởng tán thành p: IO(p)"]
Q --> A["IO(p) không dựa trên lý do R"]
Q --> B["IO(p) dựa trên lý do R"]
A --> C["Đúng(p) là tùy tiện"]
B --> D["R làm cho p đúng;<br/>IO(p) chỉ là bằng chứng"]Kết luận của Shafer-Landau: cùng một lập luận đánh vào chủ quan luận, tương đối luận văn hóa và lý thuyết người quan sát lý tưởng: sự tán thành của ta không đủ làm cho điều gì đúng. Hành động đúng vì được ủng hộ bởi những lý do xuất sắc, không phải vì ai đó tình cờ ưa nó.
8.4. Điều này có nghĩa gì với quan điểm tạm thời của người học
Người học giữ luận đề 1 và 2, để mở luận đề 3 theo hướng constructivism. Phản biện Euthyphro buộc phải chọn:
| Lựa chọn | Hệ quả |
|---|---|
| Quy trình lý tưởng dựa trên lý do có trước | Lý do làm nên chân lý ⇒ quay về realism (giữ 3); quy trình chỉ là cách tìm ra |
| Quy trình lý tưởng không dựa trên lý do có trước | Chân lý phụ thuộc vào những gì quy trình tình cờ cho ra ⇒ nguy cơ tùy tiện |
| Lối thứ ba của constructivism (Session 9) | Lý do không có trước quy trình, nhưng quy trình cũng không tùy tiện, vì nó là cấu trúc của chính lý tính thực tiễn (Korsgaard), hay là điều suy ra được từ quan điểm đánh giá của chính chủ thể (Street) |
Hàng thứ ba là chỗ cuộc tranh luận đang diễn ra. Shafer-Landau, một realist non-naturalist, cho rằng lối thứ ba sẽ sụp về một trong hai lối đầu. Session 9 (mục 4 và 5 của tài liệu ấy) đào sâu. Ở đây chỉ cần thấy: phản biện Euthyphro là bài kiểm tra chính cho quan điểm tạm thời của người học.
Dừng kiểm 8
Constructivist nói: “Bất công là sai vì những người suy xét vô tư, đủ thông tin sẽ bác bỏ nó.” Shafer-Landau sẽ hỏi câu gì? Nêu hai câu trả lời có thể và hệ quả của mỗi câu.
Gợi ý từng bước: (a) Câu hỏi: những người ấy bác bỏ bất công có lý do hay không? (b) Nếu có lý do (ví dụ: bất công gây hại cho người yếu thế, không thể biện minh với họ), thì chính lý do làm bất công sai; việc bác bỏ chỉ là bằng chứng. Đây là realism. (c) Nếu không có lý do, việc bác bỏ là tùy tiện; nếu họ đã chấp nhận bất công thì bất công sẽ đúng. (d) Constructivist cần lối thứ ba: lý do “bất công không thể biện minh với người bị thiệt” không phải một sự thật có sẵn mà là một phần của việc suy xét vô tư. Câu hỏi còn mở: lối này có ổn định không?
9. Góc nhìn của Chrisman: tương đối luận như một dạng tự nhiên luận
Chrisman (ch. 2, “Relativism as a form of naturalism”, tr. in 40–44; PDF 53–57) đặt tương đối luận vào chương về naturalism, không phải chương về phản realism. Đây là một góc nhìn khác Shafer-Landau, đáng biết để không coi phân loại của một sách là duy nhất.
9.1. Ý tưởng
Tương đối luận siêu đạo đức nói: không có hành động nào đúng/sai “chấm hết”, chỉ có đúng/sai tương đối với một đạo đức, lối sống hay nền văn hóa. So sánh: không có gì hợp pháp “chấm hết”, chỉ hợp pháp ở một vùng tài phán.
Chrisman tách hai cách phát triển:
- Đạo đức nằm ở mắt người nhìn: “với tôi” sống chung trước hôn nhân là sai, “với anh” thì không. Cách này làm sự kiện đạo đức thành bóng của phản ứng chủ quan hay liên chủ quan, nên thường được xếp là phản realism.
- Đạo đức là một bộ quy tắc, như luật giao thông, phép lịch sự, ngữ pháp phương ngữ: sự kiện “ở Anh, lái xe bên trái là đúng luật” là sự kiện tự nhiên, khám phá được bằng điều tra. Theo cách này, tương đối luận bắt đầu giống realism tự nhiên luận.
Hai phiên bản cụ thể:
- Harman (1975): phán đoán “sai” chỉ có nghĩa tương đối với một “thỏa thuận”, tức ý định ngầm của một nhóm cùng tuân theo một số nguyên tắc, với hiểu biết rằng người khác cũng vậy.
- Copp (1995): các xã hội có giá trị và nhu cầu phi đạo đức khác nhau (ví dụ một nơi hạn hán thường xuyên cần tiết kiệm nước). Bộ quy tắc đạo đức được biện minh cho một xã hội là bộ mà xã hội ấy có lý do hợp lý để chọn, căn cứ vào giá trị và nhu cầu ấy.
9.2. Hai nghĩa của “khách quan” lại xuất hiện
Chrisman: tương đối luận phủ nhận khách quan theo nghĩa phổ quát (K2 ở mục 2), nhưng có thể giữ khách quan theo nghĩa “ở ngoài kia để khám phá”. Ông còn nói, nếu hiểu realism là “có sự kiện đạo đức khách quan” theo nghĩa thứ hai, thì ngay cả chủ quan luận đơn giản cũng có thể tính là realism: việc tôi phản đối phá thai là một sự kiện tâm lý có thật, khoa học khám phá được.
Cách tutor đề nghị đặt lên khung: theo khung bốn luận đề, câu hỏi là điều gì làm cho câu đạo đức đúng. Với Harman và Copp, câu trả lời là thỏa thuận hay nhu cầu của nhóm. Vậy họ bác luận đề 3 theo nghĩa K1, dù giữ được “khách quan” theo nghĩa khám phá được. Bản của Copp gần constructivism hơn (chuẩn là cái xã hội có lý do hợp lý để chọn, không phải cái xã hội thực tế chấp nhận), nên nó nằm giữa nấc 2 và nấc 3 trên thang ở mục 3.2.
9.3. Bốn phản biện Chrisman nêu
- Động cơ: biết phán đoán đạo đức của ai đó cho thấy phần nào người ấy sẽ hành động ra sao; biết phán đoán lịch sự thì không. Người nói “không gửi thiệp cảm ơn là bất lịch sự” mà hoàn toàn không muốn gửi thiệp thì không lạ; người nói “ta có bổn phận nhận người tị nạn” mà hoàn toàn dửng dưng thì lạ. Phản biện này giả định internalism về động cơ (Session 4, 9). Nếu đạo đức chỉ là một bộ quy tắc như phép lịch sự, khó giải thích khác biệt này.
- Lý do: sự thật đạo đức có vẻ cho ta lý do hành động bất kể ta quan tâm gì (lấy trộm tiền boa là sai, dù bạn không quan tâm đến đạo đức). Quy tắc lịch sự chỉ cho lý do nếu bạn quan tâm đến lịch sự. Sự kiện “sai theo thỏa thuận X” không cho tôi lý do gì nếu tôi không quan tâm đến thỏa thuận X. (Liên hệ Shafer-Landau ch. 21, lập luận 8 về lý do định danh: lý do áp dụng bất kể mong muốn.)
- Bất đồng: phản biện chuẩn, như mục 7.6. Người từ hai nền văn hóa khác hẳn bàn chuyện đạo đức thì, theo tương đối luận, đang nói lệch nhau trừ khi họ chung một đạo đức.
- Cộng đồng là gì: ta có rất nhiều thỏa thuận ngầm cắt chéo nhau, nên không có cách hợp lý để vạch ai cùng và ai không cùng một cộng đồng đạo đức (như mục 7.7).
Dừng kiểm 9
Phản biện 1 và 2 của Chrisman nhắm vào phần nào của tương đối luận: luận đề 3, hay việc so đạo đức với phép lịch sự?
Gợi ý từng bước: (a) Cả hai phản biện đều so đạo đức với lịch sự và chỉ ra một khác biệt (động cơ, lý do). (b) Chúng không trực tiếp nói “có sự thật độc lập”. (c) Chúng nói: nếu đạo đức chỉ là một bộ quy tắc của nhóm, thì khó giải thích vì sao phán đoán đạo đức gắn với động cơ và lý do theo cách quy tắc nhóm không gắn. (d) Vậy chúng nhắm vào mô hình “đạo đức = quy tắc nhóm”; gián tiếp gây áp lực lên việc bác 3. Một tương đối luận có thể đáp: đạo đức là loại quy tắc nhóm đặc biệt được nội tâm hóa sâu; nhưng phải giải thích “đặc biệt” mà không quay về luận đề 3.
10. Bốn lập luận “dễ” chống khách quan tính (ch. 21, mục 1, 3, 4, 5)
Shafer-Landau (ch. 21, tr. in 321–327) xét mười lập luận chống khách quan tính, đi từ yếu đến mạnh. Bốn lập luận dưới đây hay gặp trong đời thường và trong thảo luận đạo đức AI. Chúng yếu, nhưng đáng học vì mỗi cái minh họa một kiểu nhầm loại câu hỏi.
10.1. Khách quan có đòi hỏi không ngoại lệ? (mục 1)
P1. Nếu câu đạo đức đúng khách quan thì quy tắc đạo đức là tuyệt đối. P2. Không quy tắc nào tuyệt đối. K. Câu đạo đức không đúng khách quan.
Chỗ sai: P1. Khách quan nói về địa vị (đúng độc lập với ý kiến ta); tuyệt đối nói về độ nghiêm ngặt (có bao giờ được phá không). Hai thứ độc lập: luật sinh học, tâm lý học có ngoại lệ mà vẫn khách quan; Ross nghĩ các bổn phận cơ bản khách quan nhưng không tuyệt đối. Đây là nhầm K1 với K3 (mục 2).
10.2. Quyền có ý kiến ngang nhau nên mọi ý kiến hợp lý ngang nhau (mục 3)
P1. Nếu mọi người có quyền ngang nhau có ý kiến, thì mọi ý kiến hợp lý ngang nhau. P2. Mọi người có quyền ngang nhau có ý kiến đạo đức. K. Mọi ý kiến đạo đức hợp lý ngang nhau, nên khách quan luận sai.
Chỗ sai: P1. Gộp hai câu hỏi: có quyền giữ ý kiến (không bị ép đổi) và ý kiến có giá trị không. Ví dụ của ông: ông và người bạn rành về cây cùng có quyền có ý kiến cây kia là cây gì; ông đoán sai, bạn ông đúng. Đây là nhầm một câu chuẩn tắc (quyền) với một câu nhận thức luận (độ hợp lý).
10.3. Khách quan luận dẫn đến giáo điều (mục 4)
P1. Nếu có chuẩn mực khách quan thì giáo điều chấp nhận được. P2. Giáo điều không chấp nhận được. K. Không có chuẩn mực khách quan.
Chỗ sai: P1. Khách quan luận là luận đề về địa vị, trung lập về việc ta nên cởi mở đến đâu. Hơn nữa, nếu sự thật đạo đức không do ta làm ra, nó khó khám phá, nên đáng khiêm tốn, như thái độ của nhà khoa học. Ngược lại, chủ quan luận làm mỗi người gần như bất khả sai: muốn biết điều gì đúng chỉ cần xem mình cảm thấy gì. Đó mới là công thức cho giáo điều. Kẻ cuồng tín thường là khách quan luận, nhưng đó là lỗi của người áp dụng sai, không phải của lý thuyết.
Đặt lên khung: khách quan (luận đề 3) + khả sai luận (Session 8: có thể biết mà vẫn có thể sai) ⇒ khiêm tốn. Khách quan không kéo theo chắc chắn.
10.4. Khách quan luận đe dọa khoan dung (mục 5)
P1. Khoan dung có giá trị chỉ khi mọi quan điểm đạo đức hợp lý ngang nhau. P2. Nếu khách quan luận đúng thì không phải mọi quan điểm hợp lý ngang nhau. K. Nếu khách quan luận đúng thì khoan dung không có giá trị.
Chỗ sai: P1. Nếu mọi quan điểm ngang nhau, thì quan điểm bất khoan dung cũng tốt như quan điểm khoan dung. Phản lập luận của Shafer-Landau:
- Nếu mọi quan điểm hợp lý ngang nhau, thì quan điểm ủng hộ khoan dung và quan điểm ủng hộ bất khoan dung hợp lý ngang nhau.
- Chúng không hợp lý ngang nhau (người coi trọng khoan dung sẽ chấp nhận câu này).
- Vậy có quan điểm kém hợp lý hơn quan điểm khác.
Người coi trọng khoan dung thường coi nó có giá trị phổ quát, nhất là ở nơi thiếu nó. Điều này cần khách quan luận, không cần tương đối luận.
Nối mục 4: đây là lý do mũi tên B ⇏ C. Tương đối luận chuẩn tắc (C: nên khoan dung) không được tương đối luận siêu đạo đức (B) ủng hộ, mà còn có thể bị B làm yếu.
Dừng kiểm 10
Trong bốn lập luận trên, lập luận nào nhầm một câu chuẩn tắc với một câu nhận thức luận? Lập luận nào nhầm hai nghĩa của “khách quan”?
Gợi ý từng bước: (a) Mục 10.2: “có quyền” (chuẩn tắc) và “hợp lý” (nhận thức luận). (b) Mục 10.1: khách quan K1 và không ngoại lệ K3. (c) Mục 10.3 nhầm một luận đề về địa vị (3) với một thái độ nhận thức (chắc chắn; luận đề 4). (d) Mục 10.4 giả định ngầm rằng giá trị của khoan dung phải đến từ sự ngang nhau của các quan điểm, trong khi khoan dung tự nó là một giá trị chuẩn tắc cần biện minh.
11. Nối lại trao đổi: ví dụ người Athens
Syllabus ghi lại một ví dụ người học từng đặt về người Athens cổ đại và cuộc tranh luận realism–relativism. Nội dung gốc không có trong ghi chép hiện có. Tutor dựng lại như dưới đây; người học nên sửa nếu ví dụ gốc khác.
Người A, một công dân Athens thế kỷ V TCN: “Chế độ nô lệ là chấp nhận được.” (Aristotle, ở thế kỷ IV TCN, có bảo vệ ý “nô lệ tự nhiên”; tutor nêu để cho thấy đây không phải quan điểm cá biệt.) Người B, một người hôm nay: “Chế độ nô lệ là sai.”
Mỗi lý thuyết đọc hai câu thế nào:
| Lý thuyết | A nói gì? | B nói gì? | Họ có bất đồng thật không? | A có sai không? |
|---|---|---|---|---|
| Realism | ¬p | p | Có, về cùng một câu hỏi | Có (nếu p đúng) |
| Constructivism | Quan điểm lý tưởng không bác chế độ nô lệ | Quan điểm lý tưởng bác nó | Có, về điều quan điểm lý tưởng sẽ chấp nhận | Có, nếu người Athens suy xét đủ thông tin và vô tư cũng sẽ bác chế độ nô lệ |
| Tương đối luận văn hóa | Chuẩn của Athens cho phép | Chuẩn của ta cấm | Không (nói lệch nhau), hoặc mâu thuẫn | Không |
| Chủ quan luận | A tán thành | B phản đối | Không | Không |
| Expressivism (Session 4, 6) | A bày tỏ thái độ chấp nhận | B bày tỏ thái độ phản đối | Có, nhưng là xung đột thái độ, không phải mâu thuẫn mệnh đề | Không theo nghĩa mô tả; quasi-realist vẫn cho phép B nói “A sai” |
Ba câu hỏi để mang ví dụ này đi xa hơn:
- Bất đồng còn lại? Nếu người Athens có đủ thông tin (ví dụ biết rằng không có “nô lệ tự nhiên”, rằng nô lệ cũng có năng lực lý trí như chủ), không thiên lệch (không hưởng lợi kinh tế từ nô lệ), họ có còn chấp nhận chế độ nô lệ không? Nếu không, bất đồng được giải thích bằng nguồn ở mục 5.4, không cần bác luận đề 3.
- Tiến bộ? B có thể nói “ta đã tiến bộ so với Athens” không? Realism và constructivism: có. Tương đối luận văn hóa: chỉ là thay đổi (mục 7.5).
- Trực giác “bất đồng thật” có bao nhiêu trọng lượng? Ở Session 5 người học thấy trực giác này “không hiển nhiên lắm” trong Trái Đất song sinh. Ví dụ Athens có làm trực giác ấy mạnh hơn không? Nếu có, vì sao: vì đây là bất đồng có hệ quả thật (con người bị sở hữu), hay vì một lý do khác?
Giới hạn của ví dụ: “người Athens” là một khái quát hóa; Athens thời ấy có tranh luận nội bộ (một số nhà ngụy biện cho rằng chế độ nô lệ trái tự nhiên, theo những gì Aristotle thuật lại). Ví dụ chỉ dùng để làm lộ cấu trúc các lập trường, không phải để mô tả chính xác lịch sử.
12. Bảng tổng hợp theo bốn luận đề
| Lập trường | L1 ngữ nghĩa | L2 chân lý | L3 độc lập | L4 tri thức | Bất đồng | Tiến bộ | Phản biện mạnh nhất |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Realism (objectivism) | ✓ | ✓ | ✓ | Khó, có thể sai | Thật | Có | Mackie: bất đồng giải thích tốt hơn bằng không-có-sự-thật; tri thức khó (S8) |
| Constructivism / người quan sát lý tưởng | ✓ | ✓ | Sửa: phụ thuộc quan điểm lý tưởng | Trung bình: biết qua mô phỏng quy trình | Thật | Có | Euthyphro (mục 8) |
| Tương đối luận văn hóa | ✓ | ~ (đúng tương đối) | ✗ | Dễ: biết chuẩn của nhóm | Mất, hoặc mâu thuẫn | Không (chỉ thay đổi) | Thế lưỡng nan mâu thuẫn; bất khả sai; tiểu văn hóa |
| Chủ quan luận | ✓ | ~ (đúng tương đối) | ✗ | Rất dễ: biết thái độ mình | Mất | Không | Thế lưỡng nan mâu thuẫn; tương đương |
| Error theory (S6) | ✓ | ✗ | (không áp dụng) | Không có gì để biết | Cả hai đều sai | Không theo nghĩa chân lý | Bạn đồng hành mang tội |
| Expressivism (S4, S6) | ✗ (hoặc tối giản) | ✗ (hoặc tối giản) | Quasi-realist: nói được “độc lập” | Tối giản | Xung đột thái độ | Quasi-realist: có | Frege–Geach; “trò chơi ngôn từ” |
Giới hạn của bảng: mỗi ô là phiên bản tiêu biểu; trong mỗi họ có phiên bản lệch khỏi ô ấy (ví dụ tương đối luận của Wong cho phép một số dạng tiến bộ). Dấu “~” nghĩa là “đúng tương đối” không hoàn toàn giống “đúng” trong L2 của realism.
Câu trả lời tạm thời cho hai câu hỏi của session:
- Bất đồng không chứng minh không có chân lý khách quan. Dạng suy diễn của lập luận có tiền đề sai (phản ví dụ, tự bác bỏ). Dạng giải thích mạnh hơn, nhưng phụ thuộc vào câu hỏi thực nghiệm còn mở: có bất đồng nào còn lại sau khi trừ các nguồn lỗi không.
- Đồng thuận không chứng minh chân lý, trừ khi ta đã chấp nhận tương đối luận (thì đồng thuận làm nên chân lý theo định nghĩa) và trả cái giá của nó. Với realism và constructivism, đồng thuận là bằng chứng có thể sai.
13. Liên hệ AI và quản trị AI
Các liên hệ dưới đây là đề xuất của tutor, chưa đối chiếu với sách Đạo đức AI, nguyên tắc và thực hành. Khi đối chiếu, dùng skill ai-ethics-citation theo AGENTS.md.
13.1. Dữ liệu cho thấy khác biệt văn hóa (loại A)
Thí nghiệm Moral Machine (Awad và cộng sự, Nature, 2018) ghi nhận sở thích khác nhau giữa các cụm quốc gia trong tình huống xe tự lái phải chọn ai chịu thiệt. Đây là dữ liệu loại A (bất đồng thực tế).
Câu hỏi: để suy ra “xe tự lái nên hành xử khác nhau theo từng nước”, cần thêm tiền đề nào? Hai đường: (i) tương đối luận siêu đạo đức (B): đúng nghĩa là đúng theo chuẩn nơi đó, với mọi cái giá ở mục 7; (ii) một tiền đề chuẩn tắc riêng như tôn trọng quyền tự quyết dân chủ (gần C), không cần B. Dữ liệu một mình không đủ (khoảng cách is–ought).
13.2. Đồng thuận của người gán nhãn: bằng chứng hay nền tảng?
Khi tinh chỉnh mô hình theo đánh giá của người gán nhãn, đồng thuận của họ có thể được hiểu theo ba cách, mỗi cách đòi hỏi quy trình quản trị khác:
| Cách đọc | Đồng thuận là | Hệ quả quản trị |
|---|---|---|
| Realism | Bằng chứng, có thể sai | Cần cơ chế phát hiện khi người gán nhãn cùng sai (thiên kiến chung); kiểm tra độc lập |
| Constructivism | Xấp xỉ một quan điểm lý tưởng | Cần thiết kế điều kiện gán nhãn gần lý tưởng: đủ thông tin, đa dạng, vô tư; đo khoảng cách so với lý tưởng |
| Tương đối luận | Chính là chuẩn mực | Không có gì để kiểm tra ngoài việc đồng thuận có thật không; không phát hiện được thiên kiến chung là “lỗi” |
Phản biện Euthyphro áp dụng ở đây: người gán nhãn đánh giá một câu trả lời “có hại” vì lý do gì? Nếu có lý do, thì nên ghi lại và kiểm tra lý do, không chỉ đếm phiếu.
13.3. Vấn đề tiểu văn hóa cho mô hình toàn cầu
Một mô hình dùng toàn cầu phục vụ người thuộc nhiều cộng đồng cắt chéo (quốc gia, tôn giáo, nghề nghiệp, thế hệ). Nếu chính sách “tôn trọng chuẩn mực địa phương” được hiểu theo tương đối luận văn hóa, nó gặp đúng vấn đề Wisconsin v. Yoder (mục 7.7): chuẩn của cộng đồng nào? Ai quyết định? Để người dùng tự chọn thì là chủ quan luận.
13.4. “Tôn trọng đa dạng văn hóa” trong nguyên tắc AI
Nhiều bộ nguyên tắc vừa nói tôn trọng đa dạng văn hóa, vừa nêu quyền con người như giới hạn chung. Đó là cấu trúc đa nguyên có giới hạn (D), không phải tương đối luận văn hóa (B), vì B không cho phép giới hạn chung nào. Câu hỏi: giới hạn chung ấy được biện minh bằng gì, nếu không phải luận đề 3? Một constructivist có thể trả lời: bằng điều không ai có thể bác bỏ một cách hợp lý (Scanlon). Chưa kiểm tra văn bản nguyên tắc cụ thể nào.
14. Sản phẩm của session
Theo syllabus: phân biệt bất đồng thực tế, tương đối luận chuẩn tắc/siêu đạo đức theo cách tác giả đang dùng, và khả năng có lý do để bảo vệ một phán đoán.
Chọn một trường hợp bất đồng (ví dụ Athens ở mục 11, ăn thịt, hay một trường hợp trong đạo đức AI như mục 13.1) và điền:
| Tầng | Câu hỏi hướng dẫn | Ghi chép của người học |
|---|---|---|
| 1. Bất đồng thực tế | Ai tin gì? Bất đồng về nguyên tắc hay về dữ kiện/áp dụng? Nguồn nào ở mục 5.4 có thể giải thích? | |
| 2. Tương đối luận theo cách tác giả dùng | Shafer-Landau đọc trường hợp này thế nào (mục 7)? Chrisman (Harman/Copp) đọc thế nào (mục 9)? Hai tác giả khác nhau ở đâu? Phát biểu nào là B, phát biểu nào là C? | |
| 3. Lý do để bảo vệ một phán đoán | Có lý do nào bảo vệ một bên mà không cần giải quyết luận đề 3 trước không? Lý do ấy có vượt qua phép thử Euthyphro không? | |
| Quan điểm tạm thời | Trường hợp này làm vững hay lung lay quan điểm “giữ 1, 2; để mở 3 theo constructivism”? |
Có thể dùng thêm bảng sản phẩm trên trang tương tác Session 7 (tự lưu trên trình duyệt, xuất ra Markdown).
15. Tự kiểm
Mỗi câu một việc. Gợi ý và đáp án mẫu để ở dưới; nên thử trước khi đọc.
Câu 1. “Ở mọi xã hội, người ta có quan niệm khác nhau về hôn nhân, vậy không có quan niệm hôn nhân nào đúng hơn quan niệm nào.” Lập luận này nhảy từ loại nào (A, B, C, D) sang loại nào? Thiếu tiền đề gì?
Đáp án mẫu: Từ A (mô tả) sang B (siêu đạo đức). Thiếu tiền đề cầu nối kiểu P2′ ở mục 5.3: lời giải thích tốt nhất cho sự khác biệt là không có chuẩn độc lập. Và cần thêm: sự khác biệt ấy không được giải thích bằng khác hoàn cảnh hay áp dụng khác cùng nguyên tắc (mục 5.4).
Câu 2. Phản biện “tự bác bỏ” của Shafer-Landau đối với P1 của lập luận từ bất đồng: viết thành ba bước.
Đáp án mẫu: (1) P1: bất đồng dai dẳng giữa người lý tưởng về q ⇒ q không đúng khách quan. (2) Người lý tưởng bất đồng dai dẳng về chính P1. (3) Áp P1 cho P1: P1 không đúng khách quan. Nó cũng không “đúng tương đối” theo nghĩa đúng vì ai đó tin. Vậy P1 không phải là thứ ta có lý do chấp nhận.
Câu 3. Vì sao Shafer-Landau nói tương đối luận văn hóa có thể không thoát được mâu thuẫn, ngay cả khi dịch lại câu đạo đức?
Đáp án mẫu: Vì một người có thể thuộc hai cộng đồng có chuẩn xung đột (vụ Yoder). Theo tương đối luận, hành động của người ấy vừa đúng (theo chuẩn cộng đồng 1) vừa sai (theo chuẩn cộng đồng 2), cho cùng một người, cùng một hành động. Dịch lại không giúp, vì câu hỏi là hành động ấy có đúng cho người ấy không. Muốn chọn một cộng đồng phải xếp hạng (tương đối luận cấm) hoặc để cá nhân chọn (thành chủ quan luận).
Câu 4. Điền: lý thuyết người quan sát lý tưởng sửa được những vấn đề nào của tương đối luận (nêu ít nhất ba), và vấn đề nào nó không sửa được?
Đáp án mẫu: Sửa được: chuẩn nền có thể sai; không còn tương đương; tán thành nô lệ không tự động có thẩm quyền; có tiến bộ; có bất đồng thật. Bất đồng giữa người lý tưởng: sửa được bằng quy tắc “mọi người lý tưởng đồng ý”. Không sửa được: Euthyphro, vì người đủ thông tin và logic vẫn có thể tàn ác; nếu họ có lý do thì lý do làm nên chân lý.
Câu 5. Theo Chrisman, tại sao có thể xếp một số dạng tương đối luận vào realism? Theo khung bốn luận đề, tutor đề nghị đọc thế nào?
Đáp án mẫu: Vì sự kiện “cộng đồng Y chấp nhận chuẩn N” là sự kiện tự nhiên, khám phá được, không do người điều tra tạo ra: khách quan theo nghĩa “ở ngoài kia”. Theo khung: luận đề 3 hỏi điều gì làm cho câu đạo đức đúng. Với tương đối luận, việc Y chấp nhận N làm cho “X sai” đúng ở Y. Vậy vẫn bác luận đề 3 theo nghĩa K1.
Câu 6 (vận dụng). Một đồng nghiệp nói: “Tôi là người theo tương đối luận vì tôi khoan dung và không muốn áp đặt.” Dùng mục 4 và 10.4, chỉ ra hai điểm cần làm rõ với người ấy.
Đáp án mẫu: (1) “Khoan dung, không áp đặt” là C (chuẩn tắc), không phải B (siêu đạo đức); người ấy có thể giữ C mà không giữ B. (2) Nếu giữ B, thì ở cộng đồng coi trọng bất khoan dung, bất khoan dung là đúng; vậy B không ủng hộ mà có thể làm yếu giá trị phổ quát của khoan dung. Người ấy muốn khoan dung có giá trị ở mọi nơi thì cần một dạng khách quan.
Câu 7 (quan điểm của người học). Với quan điểm tạm thời “giữ 1, 2; để mở 3 theo constructivism”: nêu một phản biện trong session này không đánh vào nó, và một phản biện có đánh vào nó.
Đáp án mẫu: Không đánh: thế lưỡng nan mâu thuẫn / mất bất đồng (constructivism giữ bất đồng thật, vì hai bên tranh luận về điều quan điểm lý tưởng chấp nhận); bất khả sai; tiến bộ. Có đánh: Euthyphro (mục 8.3), vì constructivism có cấu trúc giống lý thuyết người quan sát lý tưởng.
16. Hướng dẫn đọc
| Thứ tự | Đọc | Vị trí (trang in / trang PDF, chưa kiểm tra trực quan) | Tập trung vào |
|---|---|---|---|
| 1 | Shafer-Landau ch. 19, Ethical Relativism | tr. in 289–305 / PDF 310–326 | Định nghĩa objectivity (289); hai loại tương đối luận (291); thế lưỡng nan mâu thuẫn (296–299); người quan sát lý tưởng và Euthyphro (301–304) |
| 2 | Shafer-Landau ch. 21, Ten Arguments against Moral Objectivity, mục 1, 3, 4, 5, 6 | tr. in 320–328 / PDF 341–349 | Mục 6 (bất đồng, 327–328) là lõi; mục 1, 3–5 đọc nhanh |
| 3 (chọn) | Chrisman ch. 2, mục Relativism as a form of naturalism | tr. in 40–44 / PDF 53–57 | Hai cách phát triển tương đối luận; Harman, Copp; bốn phản biện |
| 4 (chọn) | Shafer-Landau ch. 21, mục 8 (lý do định danh) | tr. in 330–332 | Nối với phản biện 2 của Chrisman và Session 9 |
| 5 (chọn) | Dimmock & Fisher, ch. 6 | Chưa kiểm tra | Ôn lại |
| 6 (chọn) | MIT 24.231, mục Moral relativism, sessions 8–10 | Danh mục bài đọc | Harman, “Moral Relativism Defended” |
Ghi chú: syllabus ghi “Chrisman chương 1 và các mục về objectivity/relativism”. Theo bản trích xuất, phần chính về tương đối luận nằm ở chương 2 (naturalism). Mục lục Chrisman còn một mục về “objectivity and relativism in metaethics” (dòng 37 của bản trích xuất mục lục), tutor chưa xác định vị trí; đáng kiểm tra.
17. Thuật ngữ cốt lõi
| Thuật ngữ | Tiếng Anh | Nghĩa trong tài liệu này |
|---|---|---|
| Khách quan luận đạo đức | ethical objectivism | Có chuẩn mực đạo đức đúng bất kể ai tin hay muốn gì (≈ luận đề 1+2+3) |
| Hoài nghi đạo đức (nghĩa ch. 19) | moral skepticism | Phủ nhận khách quan luận; gồm hư vô luận và tương đối luận. Khác nghĩa “hoài nghi về tri thức” ở Session 8 |
| Hư vô luận đạo đức | moral nihilism | Không có câu đạo đức nào đúng (error theory, expressivism) |
| Tương đối luận đạo đức | ethical relativism | Có câu đúng, nhưng đúng tương đối với người hay nhóm |
| Tương đối luận văn hóa | cultural relativism | Đúng tương đối với chuẩn mực nền của cộng đồng |
| Chủ quan luận | ethical subjectivism | Đúng tương đối với thái độ hay cam kết của từng cá nhân |
| Tương đối luận mô tả / nhân học | descriptive / anthropological relativism | Nhận định thực nghiệm: các cộng đồng tin khác nhau (luận đề A) |
| Tương đối luận chuẩn tắc | normative relativism | Phán đoán đạo đức: không nên phán xét/can thiệp cộng đồng khác (luận đề C) |
| Đa nguyên giá trị | value pluralism | Có nhiều giá trị thật, không quy về một (luận đề D) |
| Không ngoại lệ (tuyệt đối) | absolute | Quy tắc không bao giờ được phá; nói về độ nghiêm ngặt, không về địa vị |
| Bất khả sai | infallible | Không thể sai |
| Người quan sát lý tưởng | ideal observer | Người hoàn toàn đủ thông tin và lý trí; lý thuyết lấy sự tán thành của họ làm chuẩn |
| Lý do định danh | categorical reason | Lý do áp dụng bất kể ta muốn hay quan tâm gì |
| Thế lưỡng nan | dilemma | Lập luận chỉ ra rằng cả hai lựa chọn đều dẫn đến kết quả khó chấp nhận |
18. Câu hỏi còn mở và nối sang các session khác
- Bất đồng nào còn lại sau khi mọi bên đủ thông tin và suy xét kỹ? Nếu có, nó ủng hộ tương đối luận, hay chỉ cho thấy đạo đức có vùng không xác định (được phép theo cách của Shafer-Landau, mục 8.2)?
- Constructivism có tránh được Euthyphro mà không sụp về realism hoặc về tùy tiện không? (→ Session 9, mục 4–5: Kantian và Humean constructivism.)
- Trực giác “A và B thực sự bất đồng” có đủ sức nặng làm bằng chứng chống tương đối luận không? Ở Session 5 người học thấy nó không hiển nhiên; ví dụ Athens có thay đổi điều đó không?
- Ta có thể có lý do mạnh để bảo vệ một phán đoán trong khi vẫn để mở luận đề 3 không? (→ Session 8, luận đề 4: bất đồng ngang hàng, khả sai luận.)
- Shafer-Landau kết luận rằng người hoài nghi về khách quan tính nên chọn hư vô luận thay vì tương đối luận. Lý do của ông có đủ mạnh không, khi chính ông thừa nhận các lập luận nặng nhất (lý do định danh, chỗ của giá trị trong thế giới khoa học) chưa có lời giải cuối cùng?
- Với AI: chính sách “tôn trọng chuẩn mực địa phương” của một mô hình toàn cầu, nếu muốn tránh vấn đề tiểu văn hóa, cần một giới hạn chung. Giới hạn ấy dựa trên realism, constructivism, hay chỉ là một thỏa thuận thực dụng?
19. Nguồn và giới hạn kiểm tra
Đã đọc trực tiếp (qua bản trích xuất tự động giáo trình trên máy người học, ngày 04/11/2026):
- Shafer-Landau, Russ. The Fundamentals of Ethics, ấn bản 2. Oxford University Press, 2012. Chương 19, Ethical Relativism (tr. in 289–305, PDF 310–326), toàn bộ; chương 21, Ten Arguments against Moral Objectivity (tr. in 320–332, PDF 341–353), mục mở đầu và mục 1–8. Mục 9–10 của ch. 21 chưa đọc. Các diễn giải trong tài liệu này là tóm lược của tutor; câu trích ngắn đều là dịch nghĩa, không phải trích nguyên văn, trừ tên chương và tên mục.
- Chrisman, Matthew. What Is This Thing Called Metaethics?, ấn bản 2. Routledge. Chương 2, mục Relativism as a form of naturalism (tr. in 40–44, PDF 53–57).
Số trang in lấy theo đầu trang hiện trong bản trích xuất; số trang PDF theo marker <!-- trang PDF: N -->. Ngày 05/11/2026 kiểm tra SHA-256 PDF và tính liên tục marker của cả F và C đều khớp; trang nhan đề và bản quyền F đã đối chiếu trực quan. Chưa kiểm tra trực quan từng trang nội dung và trang in. Bản trích xuất có thể sai ký tự hay thứ tự đọc.
Nhắc đến theo hiểu biết chung, chưa kiểm tra trang: Mackie, Ethics: Inventing Right and Wrong (1977), ch. 1; Brink, “Moral Realism and the Sceptical Arguments from Disagreement and Queerness” (1984); Harman, “Moral Relativism Defended” (1975) (Chrisman có tóm tắt); Copp, Morality, Normativity, and Society (1995) (Chrisman có tóm tắt); Wong, Natural Moralities (2006); Doris & Plakias, “How to Argue about Disagreement” (2008); MacFarlane, Assessment Sensitivity (2014); Berlin, “Two Concepts of Liberty” (1958); Scanlon, What We Owe to Each Other (1998); Aristotle, Chính trị, quyển I (về “nô lệ tự nhiên”); Awad và cộng sự, “The Moral Machine Experiment”, Nature (2018).
Chưa làm: đối chiếu Dimmock & Fisher ch. 6; đối chiếu sách Đạo đức AI, nguyên tắc và thực hành; xác định nội dung gốc ví dụ Athens của người học.
Tổng kết 2.4. Session 7: tương đối luận và bất đồng (L3) — chưa học, mới có tài liệu
Thang “đúng nhờ điều gì”, cho các lập trường cùng giữ L1 và L2:
ĐỘC LẬP HƠN ◄──────────────────────────────────────────────────► PHỤ THUỘC HƠN
Realism Constructivism Tương đối luận Chủ quan luận
đúng nhờ sự thật đúng nhờ điều mà đúng nhờ chuẩn mực đúng nhờ thái độ
độc lập mọi quan điểm LÝ TƯỞNG THỰC TẾ của một THỰC TẾ của
quan điểm sẽ chọn nền văn hóa người nói
Bốn luận đề hay bị gộp dưới chữ “tương đối”:
| Luận đề | Loại | Chạm luận đề realism nào |
|---|---|---|
| A. Bất đồng thực tế: các cộng đồng thực sự tin khác nhau | Mô tả, thực nghiệm | Không trực tiếp |
| B. Tương đối luận siêu đạo đức: “X sai” chỉ đúng tương đối với chuẩn mực một cộng đồng | Siêu đạo đức | Giữ L1, L2; bác L3 |
| C. Tương đối luận chuẩn tắc: ta không nên phán xét cộng đồng khác | Chuẩn tắc | Không phải luận đề siêu đạo đức |
| D. Đa nguyên giá trị: có nhiều giá trị thật, có khi xung đột | Chuẩn tắc | Tương thích với cả L1, L2, L3 |
A ⇏ B (cần tiền đề nối: "lời giải thích tốt nhất cho bất đồng là không có chân lý độc lập")
B ⇏ C (khoan dung là một phán đoán chuẩn tắc, cần biện minh riêng)
D ⇏ B (có nhiều giá trị không có nghĩa là giá trị tùy cộng đồng)
Ở đây “⇏” nghĩa là “không tự suy ra được nếu không thêm tiền đề”.
Câu trả lời cho câu hỏi của session: với realism và constructivism, cả bất đồng lẫn đồng thuận đều không chứng minh gì về chân lý; chúng chỉ là bằng chứng. Với tương đối luận văn hóa, đồng thuận làm nên chân lý theo định nghĩa, nên cái giá là cộng đồng không thể sai về chuẩn mực của chính mình.
Trang tương tác
Mở toàn trangTrang tương tác: /interactive/session07-relativism-disagreement/
Nối lại trao đổi
Ví dụ người học đặt về người Athens cổ đại và sự bất đồng giữa người theo realism và relativism.