Session 7 · Siêu đạo đức học · Tương đối luận, khách quan tính và bất đồng
Hai cộng đồng bất đồng sâu sắc có chứng minh được rằng không có chân lý đạo đức khách quan không? Và ngược lại, đồng thuận có chứng minh được chân lý không?
Realism gồm ba luận đề: (1) ngữ nghĩa, câu đạo đức mô tả và có thể đúng sai; (2) chân lý, có câu đạo đức tích cực đúng; (3) độc lập với quan điểm. S6 xét hai cách bác (1) và (2). S7 đặt trọng tâm vào luận đề 3: giữ (1) và (2), nhưng cho rằng câu đạo đức đúng nhờ một quan điểm nào đó. Đây cũng là chỗ bạn để mở ở cuối S6.
1 · Luận đề 3
LÕIBốn lập trường dưới đây cùng giữ luận đề 1 và 2: câu “Tra tấn để mua vui là sai” mô tả, và nó đúng. Chúng khác nhau ở điều làm cho nó đúng. Đi từ trái sang phải, chân lý đạo đức phụ thuộc ngày càng nhiều vào quan điểm của ai đó. Chọn từng nấc để xem lập trường ấy giữ, bác hay để mở luận đề nào.
Khách quan theo nghĩa mạnh: độc lập với mọi quan điểm, kể cả quan điểm lý tưởng. Chỉ realism giữ nghĩa này. Đây là luận đề 3 theo cách Shafer-Landau định nghĩa realism.
Khách quan theo nghĩa yếu: độc lập với thái độ thực tế của bất kỳ cá nhân hay cộng đồng nào, nhưng vẫn phụ thuộc điều một quan điểm lý tưởng sẽ chấp nhận. Constructivism có thể giữ nghĩa này. Tương đối luận văn hóa và chủ quan luận thì không.
Khi đọc Shafer-Landau chương 19 và 21, hãy kiểm tra tác giả dùng “objective” theo nghĩa nào trước khi so sánh các lập luận.
2 · Phân biệt của syllabus
LÕIChữ “tương đối” được dùng cho ít nhất ba luận đề khác loại, và hay bị lẫn với một luận đề thứ tư không phải tương đối luận. Mỗi thẻ ghi rõ loại câu hỏi và luận đề realism bị chạm tới.
“Các cộng đồng thực sự có những niềm tin đạo đức khác nhau.”
Còn gọi là tương đối luận mô tả. Đây là nhận định nhân học, đúng hay sai tùy dữ liệu. Nó không nói gì về việc niềm tin nào đúng.
Không chạm luận đề nào trực tiếp“‘X sai’ đúng hay sai chỉ tương đối với chuẩn mực của một cộng đồng.”
Có câu đạo đức đúng, nhưng chúng đúng nhờ chuẩn mực được chấp nhận. Đây là lập trường ở nấc 3 trên thang mục 1.
Giữ 1, 2 · bác 3“Ta không nên phán xét hay can thiệp vào thực hành của cộng đồng khác.”
Đây là một phán đoán đạo đức bậc một, thường gắn với khoan dung. Nó cần được biện minh như mọi phán đoán chuẩn tắc khác.
Không phải luận đề siêu đạo đức“Có nhiều giá trị thật sự, không quy về một, và có khi xung đột.”
Tự do, bình đẳng, lòng trung thành có thể đều là giá trị thật. Một realist có thể chấp nhận điều này (Berlin thường được nêu làm ví dụ). Syllabus nhắc: đừng coi “có nhiều giá trị” là tương đối luận.
Tương thích với cả 1, 2, 3Khoảng trống giữa các luận đề
Đọc sơ đồ: mũi tên đứt là bước suy luận không tự đứng được. Một người có thể chấp nhận A mà bác B, chấp nhận B mà bác C, hoặc chấp nhận D mà bác B, không mâu thuẫn.
3 · Cây cầu A → B
ĐÀO SÂUDạng thô “người ta bất đồng, nên không có chân lý” không hợp lệ: thiếu một tiền đề nối mô tả với siêu đạo đức. Dưới đây là bản tái dựng mạnh nhất, theo kiểu suy luận về lời giải thích tốt nhất mà bạn đã gặp ở Mackie (S6). Bấm từng dòng.
Phép thử cho P2 · Bất đồng còn có thể đến từ đâu?
Realist cần chỉ ra rằng phần lớn bất đồng được giải thích bằng những nguồn không đòi hỏi bác luận đề 3. Chọn một nguồn.
Giới triết học cũng bất đồng sâu và bền về chính câu hỏi siêu đạo đức: có chân lý đạo đức khách quan hay không. Nếu P2 đúng ở dạng tổng quát (bất đồng sâu thì không có chân lý độc lập), nó cũng áp dụng cho câu hỏi này, kể cả cho chính tương đối luận.
Cách thoát của người bảo vệ P2: thu hẹp nó. Không phải mọi bất đồng, mà chỉ bất đồng còn lại sau khi mọi bên đã đủ thông tin, suy xét kỹ và không thiên lệch. Cái giá: phải có dữ liệu cho thấy bất đồng loại ấy thực sự tồn tại trong đạo đức. Đây là câu hỏi thực nghiệm đang được tranh luận (ví dụ Doris và Plakias 2008, với phản hồi từ phía realist).
Đây là phản biện thường gặp trong tài liệu nhập môn; chưa kiểm tra Shafer-Landau trình bày nó ở chương nào.
4 · Câu hỏi trung tâm
LÕICâu hỏi của session có hai nửa đối xứng. Câu trả lời phụ thuộc vào việc đồng thuận được coi là bằng chứng cho chân lý, hay là thứ làm nên chân lý. Bảng dưới đây so sánh bốn lập trường trên thang mục 1.
| Đồng thuận thực tế đóng vai trò gì? | Bất đồng chứng minh được gì? | Đồng thuận chứng minh được gì? | |
|---|---|---|---|
| Realism | Bằng chứng, có thể saiĐồng thuận giữa những người suy xét kỹ là dấu hiệu, giống đồng thuận trong khoa học. Nó không làm nên chân lý. | Chỉ chứng minh rằng ít nhất một bên sai, hoặc thiếu thông tin. Không chứng minh không có câu trả lời. | Không chứng minh được. Cả một thời đại có thể cùng sai. |
| Constructivism: một mô hình lý tưởng hóa | Bằng chứng có thể saiTrong mô hình đang xét, điều được chấp nhận theo một quy trình lý tưởng có vai trò cấu thành đáp án; đồng thuận thực tế có thể là bằng chứng về kết quả đó. | Nếu mô hình bảo đảm một kết quả duy nhất và hai kết luận thật sự loại trừ nhau, ít nhất một kết luận không phù hợp với kết quả ấy. Chưa thể chỉ từ bất đồng thực tế kết luận bên nào không tuân đúng quy trình. Nếu mô hình cho phép nhiều kết quả lý tưởng, có thể không có một đáp án duy nhất. | Đồng thuận thực tế chưa bảo đảm kết quả phù hợp với quy trình lý tưởng; cần xem các điều kiện của mô hình có được đáp ứng hay không. |
| Tương đối luận văn hóa | Làm nên chân lýChuẩn mực được cộng đồng chấp nhận chính là thứ làm cho “X sai” đúng trong cộng đồng ấy. | Không cần chứng minh gì: hai cộng đồng đơn giản có hai chân lý. Nhưng đó là kết luận của lý thuyết, không phải bằng chứng cho nó. | Chứng minh được, theo định nghĩa. Cái giá: cộng đồng không thể sai về chuẩn mực của chính mình (mục 5). |
| Chủ quan luận | Không liên quanChỉ thái độ của người nói (hoặc người đánh giá) quyết định. Đồng thuận chỉ là nhiều người có cùng thái độ. | Không có gì để chứng minh. Hai người nói về hai thứ khác nhau (mục 6). | Chỉ chứng minh rằng mỗi người đều đang nói đúng về thái độ của mình. |
Điểm chung cần thấy: với realism và constructivism, cả hai câu hỏi của session đều có câu trả lời “không”; với tương đối luận, câu hỏi về đồng thuận được trả lời “có” do định nghĩa, nên không còn là câu hỏi về bằng chứng.
Bạn giữ luận đề 1 và 2, để mở luận đề 3 theo hướng constructivism. Bảng trên cho thấy hướng này có hệ quả rõ: nó vẫn trả lời “không” cho cả hai câu hỏi của session, giống realism. Khác biệt với realism chỉ xuất hiện khi hỏi tiếp: nếu mọi người đều lý tưởng mà vẫn bất đồng thì sao?
Có bất đồng không? (thực nghiệm). Có câu trả lời đúng không? (siêu đạo đức). Ta có lý do để bảo vệ một phán đoán không? (nhận thức luận). Câu thứ ba có thể trả lời “có” ngay cả khi bất đồng còn đó. Đây là phần thứ ba trong sản phẩm của session.
5 · Tương đối luận văn hóa dưới phản biện
ĐÀO SÂUĐây là các phản biện chuẩn trong tài liệu nhập môn (Shafer-Landau, Rachels). Phần lớn không bác bỏ trực tiếp, mà chỉ ra một hệ quả của việc bác luận đề 3 rồi hỏi bạn có chấp nhận được hệ quả ấy không. Thử nghĩ phản hồi trước khi bấm.
6 · Nối lại trao đổi · Athens cổ đại
LÕISyllabus ghi lại ví dụ bạn từng đặt về người Athens cổ đại và cuộc tranh luận realism–relativism. Tutor dựng lại thành hai câu nói dưới đây; nội dung ví dụ gốc của bạn có thể khác, hãy sửa hai ô cho đúng ý bạn. Rồi chọn một lý thuyết để xem nó đọc hai câu thế nào.
Nếu “X sai” chỉ có nghĩa “X sai theo chuẩn của tôi” (hoặc “của cộng đồng tôi”), thì A và B nói về hai chuẩn khác nhau, và cả hai có thể cùng đúng. Nhưng cảm nhận thông thường là họ đang cãi nhau về một câu hỏi chung. Một lý thuyết làm bất đồng này biến mất phải giải thích vì sao ta cảm thấy nó.
Bạn đã gặp vấn đề cùng hình dạng hai lần: ở S4 (expressivism giải thích bất đồng bằng thái độ) và ở S5 (Trái Đất song sinh: nếu mỗi cộng đồng dùng “tốt” cho thuộc tính riêng, bất đồng biến mất). Ở S5 bạn thấy trực giác bất đồng “không hiển nhiên lắm”. Đó là một lối ra có thật cho người theo tương đối luận: chối rằng có bất đồng thật, và chấp nhận cái giá.
7 · Sản phẩm của session
Theo syllabus: phân biệt bất đồng thực tế, tương đối luận chuẩn tắc hay siêu đạo đức theo cách tác giả đang dùng, và khả năng có lý do để bảo vệ một phán đoán. Chọn một trường hợp (ví dụ Athens ở mục 6, hoặc một trường hợp trong đạo đức AI) và điền. Bảng tự lưu trên trình duyệt này.
| Tầng | Ghi chép của bạn |
|---|
8 · Kiểm tra phân biệt
Mỗi câu chọn một nhãn từ mục 2. Vài câu được viết để nghe giống tương đối luận mà không phải.
9 · Nối sang đạo đức AI
Thí nghiệm Moral Machine (Awad và cộng sự, Nature, 2018) ghi nhận sở thích khác nhau giữa các cụm quốc gia trong các tình huống xe tự lái. Đây là dữ liệu loại A ở mục 2.
Câu hỏi: từ dữ liệu này, cần thêm tiền đề nào để suy ra rằng hệ thống nên hành xử khác nhau theo từng nước?
Khi một mô hình được tinh chỉnh theo đánh giá của người gán nhãn, đồng thuận của họ đóng vai trò gì: bằng chứng về điều đúng (realism), xấp xỉ một quan điểm lý tưởng (constructivism), hay chính là chuẩn mực (tương đối luận)?
Câu hỏi: mỗi cách đọc đòi hỏi quy trình quản trị khác nhau ở đâu, ví dụ khi người gán nhãn đồng thuận về một thiên kiến?
Nhiều bộ nguyên tắc vừa nói tôn trọng đa dạng văn hóa, vừa nêu quyền con người như giới hạn chung. Đó là cấu trúc đa nguyên có giới hạn (D), không phải tương đối luận văn hóa (B), vì B không cho phép giới hạn chung nào.
Câu hỏi: giới hạn chung ấy được biện minh bằng gì, nếu không phải luận đề 3? Chưa kiểm tra văn bản nguyên tắc cụ thể nào.
10 · Đọc và câu hỏi còn mở
Shafer-Landau, The Fundamentals of Ethics (ấn bản 2): chương 19 Ethical Relativism; chương 21, chọn các lập luận về bất đồng và khách quan tính.
Chrisman (ấn bản 2), chương 1 và mục Relativism as a form of naturalism trong chương 2. Dimmock & Fisher, chương 6. MIT 24.231, mục Moral relativism, sessions 8–10: danh mục bài đọc.
Benedict, “Anthropology and the Abnormal” (1934); Harman, “Moral Relativism Defended” (1975); Rachels, “The Challenge of Cultural Relativism”, trong The Elements of Moral Philosophy; Mackie, Ethics: Inventing Right and Wrong (1977), ch. 1; Brink, “Moral Realism and the Sceptical Arguments from Disagreement and Queerness” (1984); Wong, Natural Moralities (2006); Doris & Plakias, “How to Argue about Disagreement” (2008); MacFarlane, Assessment Sensitivity (2014); Berlin, “Two Concepts of Liberty” (1958); Street, “What Is Constructivism in Ethics and Metaethics?” (2010); Awad et al., “The Moral Machine Experiment”, Nature (2018).
Trang tương tác này được dựng trước tài liệu session07.md. Tài liệu session07.md ghi tutor đã đọc Shafer-Landau chương 19, chương 21 mục 1–8 và mục Relativism as a form of naturalism của Chrisman qua bản trích xuất. Các nội dung trên trang tương tác chưa được đối chiếu toàn bộ với nguồn; ví dụ Athens do tutor dựng lại, chưa chắc khớp ví dụ gốc.