Session 5 · Siêu đạo đức học · Moral realism
Nếu có sự thật đạo đức, chúng có thể là sự thật tự nhiên như “nước là H₂O” không? Hay chúng là một loại sự thật khác hẳn?
Cognitivism nói câu đạo đức có giá trị chân lý (truth-apt). Điều đó chưa nói câu nào thực sự đúng, và chưa nói điều gì làm cho nó đúng. Session 5 chuyển từ câu hỏi ngữ nghĩa sang câu hỏi bản thể luận: nếu có sự kiện đạo đức, chúng được làm bằng gì?
1 · Đi qua ba câu hỏi
Mỗi lựa chọn mở ra câu hỏi tiếp theo. Đây là bản đồ khái quát để định hướng; các phiên bản cụ thể có thể nằm vắt qua ranh giới.
Câu “tra tấn để mua vui là sai” có thể đúng hoặc sai không?
Có câu đạo đức nào đúng, và đúng độc lập với quan điểm của bất kỳ ai không?
Sự kiện đạo đức ấy có phải là sự kiện tự nhiên không?
Mỗi điểm dừng cho biết lập trường, người tiêu biểu và session sẽ bàn sâu.
2 · Cùng một câu, nhiều lăng kính
Chọn một lăng kính. Câu về nước sôi là mốc so sánh: mọi lập trường đều coi nó là sự kiện tự nhiên. Khác biệt nằm ở ba câu còn lại.
Mô tả khái quát của tutor để đối chiếu, không thay cho cách trình bày trong Chrisman chương 2–3.
3 · Phòng thí nghiệm lập luận
Trong Principia Ethica (1903), G. E. Moore thách thức mọi định nghĩa “tốt” bằng một thuộc tính tự nhiên. Chọn một định nghĩa ứng viên và xem câu hỏi còn “mở” không: người hiểu rõ cả hai khái niệm có thể vẫn băn khoăn một cách có nghĩa hay không?
Từ P1 và P2 đến “không đồng nghĩa” là bước hợp lệ (modus tollens) cho từng ứng viên. Còn P3 là khái quát quy nạp: thử năm định nghĩa thất bại không chứng minh mọi định nghĩa đều thất bại.
Bước nhảy lớn nhất là từ khái niệm sang thuộc tính. Câu hỏi mở cho thấy khái niệm “tốt” khác khái niệm “khoái lạc”. Nó không tự chứng minh thuộc tính tốt khác thuộc tính tự nhiên. Đây chính là phân biệt ngữ nghĩa / bản thể luận bạn đã dùng ở Session 4.
Nghịch lý phân tích (Langford): nếu một phân tích đúng thì phải hiển nhiên, nhưng nếu hiển nhiên thì vô ích. Phân tích đúng có thể không hiển nhiên ngay, nên cảm giác “còn mở” chưa đủ để bác bỏ.
“Nước là H₂O” không phải chân lý khái niệm. Người xưa hiểu “nước” mà vẫn hỏi một cách có nghĩa “nước có phải là H₂O không?”. Câu hỏi mở về khái niệm, nhưng thuộc tính vẫn đồng nhất. Tốt cũng có thể là một thuộc tính tự nhiên, được phát hiện hậu nghiệm.
Nước = H₂O được phát hiện nhờ nghiên cứu thực nghiệm về chất lỏng trong sông hồ. Không có thí nghiệm tương ứng nào cho “tốt”. Hơn nữa, “tốt” và “nên” mang tính chuẩn tắc: chúng cho ta lý do. Đó là điều mà mô tả “là gì” dường như không làm được.
4 · Naturalist realism
Luận đề chung: có sự kiện đạo đức độc lập với quan điểm, và chúng là sự kiện tự nhiên, cùng loại với những gì khoa học nghiên cứu. Sức hút lớn nhất: đạo đức không cần một “tầng” thực tại riêng, và tri thức đạo đức có thể giải thích giống tri thức thường nghiệm.
“Đúng”, “tốt” có thể định nghĩa bằng các thuật ngữ tự nhiên qua phân tích khái niệm. Ví dụ ở dạng chặt chẽ hiện đại: chủ nghĩa chức năng đạo đức của Frank Jackson.
Đối diện trực tiếp với câu hỏi mở của Moore.
Thuộc tính đạo đức là thuộc tính tự nhiên phức hợp, đồng nhất hậu nghiệm như nước = H₂O. Boyd, Sturgeon, Brink. Peter Railton đưa ra một phiên bản quy giản có tính “cải tạo” định nghĩa.
Né được câu hỏi mở, nhưng gặp “Trái Đất song sinh”.
Nicholas Sturgeon (“Moral Explanations”, 1985) cho rằng ta thường giải thích sự việc bằng thuộc tính đạo đức: sự đồi bại của một người giải thích vì sao người ấy làm những điều tàn ác; sự bất công của một chế độ giải thích vì sao nó bị phản kháng. Nếu thuộc tính đạo đức có vai trò giải thích, chúng có chỗ trong bức tranh tự nhiên, như các thuộc tính trong sinh học hay xã hội học.
Đối thủ là Gilbert Harman (“Ethics and Observation”): lời giải thích bằng tâm lý của người quan sát đã đủ, không cần sự kiện đạo đức. Cặp bài này sẽ trở lại ở Session 8.
Theo Cornell realism, từ “tốt” chỉ thuộc tính nào điều hòa nhân quả việc ta dùng từ ấy. Hãy tưởng tượng một Trái Đất song sinh: người ở đó dùng “tốt” giống hệt ta về vai trò trong đời sống, nhưng cách dùng của họ bị điều hòa bởi các thuộc tính kiểu nghĩa vụ luận, còn của ta bởi thuộc tính kiểu hệ quả luận.
Khi hai bên tranh cãi “điều này có tốt không?”, trực giác bảo rằng họ thực sự bất đồng. Nhưng ngữ nghĩa nhân quả dự đoán họ đang nói về hai thứ khác nhau, như “nước” và “XYZ” trong thí nghiệm của Putnam. Vậy lý thuyết đã bỏ sót điều gì đó về nghĩa của từ đạo đức.
Câu hỏi để thảo luận: đây là vấn đề ngữ nghĩa của Cornell realism hay vấn đề của mọi naturalism?
5 · Non-naturalist realism
Luận đề: có sự kiện đạo đức độc lập với quan điểm; chúng siêu biến (supervene) trên các đặc điểm tự nhiên nhưng không đồng nhất với chúng. Tính sai của việc tra tấn để mua vui phụ thuộc vào nỗi đau và sự vô cớ, nhưng không là nỗi đau và sự vô cớ. Người tiêu biểu: Moore, W. D. Ross, Russ Shafer-Landau, David Enoch, Derek Parfit.
Tính chuẩn tắc quá khác biệt. Sự kiện tự nhiên cho biết thế giới thế nào; sự kiện đạo đức cho ta lý do và đòi hỏi ở ta. Enoch gọi đó là khoảng cách “just too different”.
Bạn đồng hành mang tội. Lý do nhận thức (“bạn nên tin vào bằng chứng”) cũng chuẩn tắc và khó tự nhiên hóa. Bác bỏ sự kiện đạo đức vì chúng phi tự nhiên thì cũng phải bác bỏ cả lý do nhận thức, trong đó có lý do để tin vào chính lập luận bác bỏ.
Thế giới có thêm một loại sự kiện ngoài khoa học tự nhiên. Ta cần giải thích: chúng ở đâu, liên hệ với vật chất ra sao, và ta biết chúng bằng cách nào.
Bốn phản biện dưới đây nhắm vào chính cái giá ấy. Hãy thử nghĩ phản hồi trước khi bấm.
6 · Gỡ một hiểu lầm phổ biến
Moral realism là luận đề siêu đạo đức về địa vị của sự thật đạo đức. Nó không tự quyết định nội dung của sự thật ấy. Mỗi câu dưới đây có tương thích với moral realism không?
7 · Nối sang đạo đức AI
Naturalism hứa hẹn có thể đo được điều tốt. Nhưng câu hỏi của Moore quay lại dưới dạng kỹ thuật: “mô hình đã tối đa chỉ số W, nhưng kết quả có tốt không?”. Định luật Goodhart cho thấy chỉ số đại diện dễ tách khỏi điều nó đại diện.
Câu hỏi: đây là phản bác naturalism, hay chỉ là sai lầm khi chọn sai thuộc tính tự nhiên?
Nếu realism đúng, có thể toàn bộ người dùng, người gán nhãn dữ liệu hay một xã hội cùng tin một điều sai. Căn chỉnh theo sở thích con người và căn chỉnh theo điều đúng trở thành hai mục tiêu khác nhau.
Câu hỏi: nếu hai mục tiêu ấy khác nhau, ai có thẩm quyền quyết định khi chúng xung đột?
Nếu sự kiện đạo đức không có tác động nhân quả, cả AI lẫn con người đều không “quan sát” được chúng. Non-naturalist thường dựa vào suy xét và trực giác có lý do. Một mô hình học từ văn bản có đang suy xét, hay chỉ tái tạo phân bố niềm tin của người viết?
Liên hệ tới phản biện tri thức và Session 8.
8 · Sản phẩm của session
Theo syllabus: với từng lập trường, ghi luận đề, lý do ủng hộ, phản biện và câu hỏi còn mở. Bảng tự lưu trên trình duyệt này. Khi xong, sao chép dưới dạng Markdown để dán vào ghi chép session.
| Lập trường | Luận đề | Lý do ủng hộ | Phản biện | Câu hỏi còn mở |
|---|
9 · Đọc và câu hỏi còn mở
Chrisman, What Is This Thing Called Metaethics? (ấn bản 2): chương 2 Naturalism và chương 3 Nonnaturalism.
Dimmock & Fisher, chương 6, các mục tương ứng. Shafer-Landau, Fundamentals (ấn bản 5), chương 21 Eleven Arguments against Moral Objectivity: chọn các lập luận liên quan để đọc đối thoại.
Phần naturalist và non-naturalist realism trong mô tả học phần Metaethics.
Moore, Principia Ethica (1903); Sturgeon, “Moral Explanations” (1985); Horgan & Timmons, “New Wave Moral Realism Meets Moral Twin Earth” (1991); Mackie, Ethics: Inventing Right and Wrong (1977); Street, “A Darwinian Dilemma for Realist Theories of Value” (2006); Enoch, Taking Morality Seriously (2011).